Xung quanh vụ dịch giả Đào Kim Hoa bị cho là "đạo thơ":

Để tránh tình trạng "được vạ thì má đã sưng"

Thứ Hai, 29/06/2009, 04:05
Những ngày qua, dư luận trong giới văn chương không ngớt bàn tán xung quanh vụ bà Đào Kim Hoa - Phó ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, bị cáo buộc là "đạo thơ" của hai nhà thơ Hữu Thỉnh và Lò Ngân Sủn trong quá trình tham dự Festival thơ quốc tế ở Đài Bắc (Đài Loan) năm 2001.

Trong khi mọi kết luận còn chờ vào những tài liệu có giá trị pháp lý và những hình thức kỷ luật (nếu có) còn phụ thuộc vào quyết định của những người có trách nhiệm ở Hội Nhà văn Việt Nam, chúng tôi xin có đôi lời bàn thêm xung quanh việc đạo thơ và việc bị nghi là đạo thơ từng xảy ra trên văn đàn Việt Nam ít năm trở lại đây, cốt để bạn đọc thấy rằng, về bản chất, đây là một việc làm "được ít, mất nhiều", nếu không muốn nói là hành động xuẩn ngốc, phi lý. Và như vậy, thái độ ban đầu của chúng ta là phải hết sức thận trọng, suy xét nhiều chiều trước khi đưa ra lời phán xét với những vấn đề liên quan đến lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp này...

Liên quan đến vụ việc của bà Đào Kim Hoa, nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam từng đưa ra nhận xét, đại ý, chỉ  là người "không bình thường" mới có hành vi như vậy. Và "cầm nhầm thơ con cóc của Nguyễn Trí Huân thì không ai biết, chứ cầm nhầm thơ Hữu Thỉnh, Lò Ngân Sủn thì khác gì tự sát trong văn chương".

Quả đúng vậy. Ai cũng biết, một đặc điểm cơ bản của sự ăn cắp là phải làm sao để người ta không biết (như thế mới là ăn cắp, chứ nếu không đã là ăn cướp rồi). Với chuyện văn chương, đặc điểm ấy đã gặp phải một sự phi lôgic (sở dĩ nói ăn cắp văn khó vì thế): Văn chương khi đã hay thường được nhiều người biết.

Mà tìm cách lấy cái "ai cũng biết", biến cái "ai cũng biết" ấy của người khác thành của mình thì khác nào "lạy ông tôi ở bụi này", chẳng hóa không dưng chuốc lấy tiếng nhơ nhuốc cho mình sao? Điều này lý giải việc tại sao khi Báo Người Hà Nội mở cuộc tranh luận xem có phải nhà thơ Bế Kiến Quốc đã "đạo thơ" của thi hào Đức thế kỷ XIX Henrích Hainơ không (chẳng là, theo phản ánh của một độc giả thì trong quyển "Người mẹ và phái đẹp" xuất bản tại NXB Văn hóa - Thông tin năm ấy có in một bài thơ đề tên tác giả là Hainơ, trong khi ở tập thơ của nhà thơ Bế Kiến Quốc cũng có bài thơ nội dung y chang như thế), tôi đã không tin vào chuyện ấy và xem như người ta nhầm lẫn gì đó.

Vì nếu tôi tin như thế thì hoặc giả là tôi điên, hoặc tôi không điên thì can phạm kia... điên (cứ đặt giả thiết là nhà thơ Bế Kiến Quốc có đạo thơ của Henrích Hainơ thật). Bởi chuyện này nó vô lý và ngược đời y như một câu chuyện trong ngụ ngôn của Laphôngten: Một con chó sói gặp chú dê non bên bờ suối. Vì muốn ăn thịt dê nên nó tìm cách gây sự, nạt nộ: "Ê, thằng dê kia, tao nghe nói năm ngoái mày chửi bố mẹ tao".

Chú dê nghe thế bình tĩnh đáp: "Thưa ông sói, mẹ cháu vừa sinh ra cháu từ đầu năm nay, làm sao cháu có thể chửi bố mẹ ông từ năm ngoái được". Chắc hẳn chúng ta không thể tưởng tượng nổi một nhà thơ nào lại có thể thiếu văn hóa và "dại dột" đến mức đi đánh cắp tác phẩm của một thi hào mà đến nay tên tuổi vẫn còn lưu truyền và sáng vằng vặc trong sự ngưỡng mộ của độc giả khắp năm châu bốn biển.

Bởi việc đánh cắp như vậy thì làm sao qua mắt được dịch giả (của bản chuyển ngữ từ tiếng Đức sang tiếng Việt), qua mắt được muôn vạn độc giả. Và khi cần đối chiếu, thì đương nhiên, phần “thắng” không thể thuộc về kẻ hậu sinh. Thực tế sau đó đã chứng minh: Tác giả bài thơ được gán cho là của Henrích Hainơ thật ra là thơ Bế Kiến Quốc. Bài thơ được lưu truyền trong sổ tay trước khi được công bố trên sách báo.

Và rồi không hiểu, do sơ suất từ một khâu nào đó mà khi in trong tập "Người mẹ và phái đẹp", nó được ghi danh tác giả là thi hào người Đức nói trên (người sưu tầm còn cho biết cụ thể năm tháng cuốn thơ dịch của Hainơ được ấn hành tại Việt Nam, cũng như tên gọi của đơn vị xuất bản, trong khi thực tế, đối chiếu cuốn sách được nhắc tới thì không có bài thơ này).

Đích danh Giám đốc NXB Văn hóa - Thông tin khi ấy là nhà thơ Quang Huy đã chính thức lên tiếng xin lỗi nhà thơ Bế Kiến Quốc vì đã để xảy sự cố đáng tiếc. Tất nhiên, dù được minh oan, song trao đổi với nhà thơ Bế Kiến Quốc, tôi nhận thấy anh vẫn chưa hết phiền lòng. Anh tâm sự: Giá như trước khi đưa lên báo điều nghi vấn ấy, người viết tìm gặp anh để tìm hiểu thêm sự việc thì tốt biết bao.

Không riêng gì nhà thơ Bế Kiến Quốc, mà ngay nhà thơ Vương Trọng, người một thời "gác gôn thơ" ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, cũng từng là nạn nhân của một nghi án đạo thơ. Chẳng là, lần ấy, đọc tờ Văn nghệ Dân tộc và Miền núi, anh phát hiện thấy trong chùm thơ của Cầm Bá Lai, một tác giả người Mường (bấy giờ đã mất) có bài thơ "Sợi tóc" nội dung giống tới 90 % bài thơ "Sợi tóc hai màu" của anh đã được in từ nhiều năm trước đấy, trên Báo Văn nghệ.

Thấy lạ, Vương Trọng gửi thư lên tòa soạn thắc mắc, đề nghị cải chính. Khác với điều anh mong đợi, ban biên tập tuy có in ý kiến của anh, song trong phần "Lời tòa soạn", họ lại nói như thể đó là "ý tưởng lớn gặp nhau". Điều này khiến trong dư luận, không khỏi có người xì xào này khác.

Vương Trọng tâm sự: "Mình trách là khi sự việc xảy ra, thay vì việc điều tra xem khúc mắc ở đâu, họ chỉ quay sang bao biện, để mặc mình chịu trận. Mình nhớ hồi ấy có những người không thiện chí đã nghĩ mình làm biên tập thơ ở Văn nghệ Quân đội, đã lấy thơ của cộng tác viên gửi đến để in thành của mình. Có người từ vụ việc này còn đề nghị xem lại những bài thơ khác của mình xem có phải thật do mình viết ra hay không".  

Cũng theo Vương Trọng cho biết thì quá trình diễn ra việc chứng minh bản quyền của anh đối với bài thơ "Sợi tóc hai màu" không hề đơn giản như anh tưởng. Có thể nói đấy là sự nhầm lẫn cực kỳ hi hữu. Báo in thơ Cầm Bá Lai theo bản chép tay của vợ ông. Dưới bài thơ lại đề "Tặng Vương Trọng".

Cái "khó" cho Vương Trọng là khi Văn nghệ Dân tộc và Miền núi cho in bài thơ này thì cả Cầm Bá Lai và vợ ông đều đã ra người thiên cổ. Nghĩa là không có ai giải thích hộ lý do vì sao bài thơ của Vương Trọng lại được chữa lại và đề tên tác giả thế kia. Mà tâm lý thông thường của dân ta là: Chỉ có người sống đạo thơ của người chết chứ làm sao lại có chuyện người chết đạo thơ của người sống.

Rất may cho Vương Trọng là sau này, nhà báo Hoàng Quảng Uyên đã cất công về tận Thanh Hóa để điều tra, tìm hiểu và đã làm sáng tỏ vụ việc khi tìm được một quyển sổ chép tay của Cầm Bá Lai, trong đó Cầm Bá Lai có chép bài thơ "Sợi tóc hai màu" và đề rõ tên tác giả là Vương Trọng. Từ chuyện đó, Vương Trọng cắt nghĩa sự việc: "Có lẽ do Cầm Bá Lai yêu thích bài thơ của mình nên ông đã chữa lại một số chữ theo kiểu đăng đối để tặng lại mình, nhưng vì ông mất sớm nên sự việc mới trở nên rầy rà". 

Tuy không xảy ra dích dắc như trường hợp của nhà thơ Vương Trọng song người viết bài này cũng từng gặp một sự cố không được vui vẻ cho lắm. Chẳng là, trong những bài thơ tôi sáng tác, bài "Kim giờ kim giây" có may mắn là hay được in lại trong một số tập thơ tuyển của nhiều tác giả, cũng như được một số bạn trẻ chép trong sổ tay.

Bài thơ này tôi viết ngày 31/10/1987 và đã được in lần đầu trên Báo Tiền phong số ra ngày 12/7/1988. Nói cụ thể như thế để thấy, tôi đã ngạc nhiên như thế nào khi nghe nhà thơ Đỗ Hoàng thông báo, bài thơ của tôi được Tạp chí Non Nước của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật TP Đà Nẵng (số tháng 9/2001) in lại, nhưng là dưới cái tên... Phạm Ký. Thoạt đầu, tôi còn cho rằng, đây là lỗi morát (ai đó đã đánh máy chữ Phạm Khải ra... Phạm Ký), song khi nhìn tận mắt trang báo, tôi mới thấy đây là một sự nhầm lẫn tai hại.

Bởi, theo lời giới thiệu của tòa soạn thì cụ Phạm Ký "là một đảng viên bậc lão thành cách mạng có nhiều cống hiến với quê hương, đất nước, nay sắp 90 tuổi". Như vậy, theo lôgic thông thường, lẽ nào cụ lại "đạo thơ" của bậc cháu con kém mình tới sáu chục tuổi, nếu không phải là ngược lại. Điều đáng nói là trong chùm thơ 3 bài được đính kèm lời giới thiệu ấy thì hai bài được viết theo lối cổ, rõ ra của người có tuổi, còn bài cuối cùng là bài "Kim giờ kim giây" thì giọng điệu khác hẳn.

Tôi đã gọi điện cho nhà thơ Thanh Quế, Tổng biên tập Tạp chí Non Nước nói rõ sự tình. Sau khi khẳng định bài thơ là của mình và sẵn sàng cung cấp những tài liệu liên quan đến nguồn gốc bài thơ, tôi khẳng định thêm: Nếu có bản in nào bài thơ này xuất hiện trước thời điểm ngày 12/7/1988, là thời điểm bài thơ lần đầu được in trên Báo Tiền phong, tôi xin hoàn toàn nhường lại bản quyền bài thơ. Sau ý kiến của tôi, nhà thơ Thanh Quế đã cho kiểm tra lại và ngay số tạp chí kế tiếp, anh đã cho in lời cải chính và xin lỗi tôi về sự nhầm lẫn nói trên.

Cũng giống như các nhà thơ Bế Kiến Quốc, Vương Trọng, dù vụ "nhầm thơ" như vậy đã được kết thúc bằng một cái kết có hậu, song trong tôi vẫn trĩu nặng nỗi buồn. Thú thật là tôi không tiếc việc "mất" một bài thơ. Bởi theo quan điểm của tôi, bài thơ lưu lại được bao lâu trong trí nhớ độc giả còn tùy vào "duyên phận" của nó, cái chính là việc nhầm lẫn như thế có thể làm cho những người không có điều kiện tiếp xúc với tác giả hiểu sai lệch vấn đề, từ đó kéo theo nhiều hệ luỵ khác. Vả chăng, nói là đính chính vậy, song bàn dân thiên hạ có phải ai cũng đọc hết được các số báo để mà hiểu đúng được bản chất sự việc đâu?

Trở lại với vụ "nghi án đạo thơ" của bà Đào Kim Hoa, tôi rất thông cảm với những phát biểu bức xúc của nhà thơ Hữu Thỉnh khi lần đầu hay tin 2 bài thơ của mình bị ghi tên tác giả là Đào Kim Hoa. Và tôi cũng thông cảm với lời phát biểu "mềm" hơn của ông sau đó, bởi dẫu sao ông cũng đang giữ cương vị thủ trưởng cơ quan Hội Nhà văn, là nơi bà Hoa công tác.

Riêng với vụ việc liên quan đến bà Đào Kim Hoa, trước khi chờ những tài liệu xác đáng chứng minh việc làm "khuất tất" (nếu có) của bà, tôi chỉ xin đưa ra một ý kiến là: Nên chăng, trước khi kết luận ngay từ cái tít bài rằng bà Hoa "đạo thơ" (như ở bài báo của tác giả Trang Hạ), ta thử đặt ra giả thiết: Ban Tổ chức Festival thơ Đài Bắc có một sự nhầm lẫn nào đấy?

Và như vậy, tác giả Trang Hạ có thể tìm gặp bà Hoa để yêu cầu bà giải thích rõ thêm sự việc. Và những lời giải thích này có thể được in ở phần sau của bài viết phản ánh sự việc thơ Hữu Thỉnh, thơ Lò Ngân Sủn được phổ biến ở Đài Loan dưới cái tên Đào Kim Hoa. Không sợ cách làm ấy sẽ khiến bà Hoa có thêm cơ hội để "chối tội", hoặc “chữa hồ sơ”. Bởi nếu quả thật có việc đạo thơ trắng trợn như trên thì hẳn bà Hoa có giải thích thế nào thì "cái kim trong bọc" lâu ngày cũng phải lòi ra.

Còn nếu như vụ việc chỉ là do sơ suất, nhầm lẫn của Ban Tổ chức Festival thơ Đài Bắc (như bà Hoa giải trình) thì có phải chúng ta đã tránh được việc kết tội một con người trước khi tìm cách chứng minh họ vô tội -  như một bài học vỡ lòng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (đã được ghi trong Bộ luật Tố tụng Hình sự) hay không? Biết đâu nhờ thế mà chúng ta tránh được một vụ "được vạ thì má đã sưng"?

Như ở đầu bài đã nói, chỉ những người "điên nặng" mới có thể lấy thơ của những người nổi tiếng làm thơ của mình. Tuy nhiên, cuộc đời vẫn có nhiều điều bất ngờ ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Như trước đây, dư luận từng phải ngạc nhiên khi biết, một dịch giả khá quen thuộc trong giới dịch thuật là ông Trịnh Xuân Hoành đã có hành vi cóp đến 90% câu chữ của bản dịch bộ truyện cổ Ảrập "Nghìn lẻ một đêm" của dịch giả Phan Quang, người từng giữ cương vị Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam (cuốn sách "đạo văn" ấy lại được in chính tại NXB Văn học, là nơi từng in bản dịch của dịch giả Phan Quang).

Sự đời có nhiều chuyện lạ vậy. Không rõ vụ việc liên quan đến bà Đào Kim Hoa sẽ có cái kết như thế nào? Chúng ta cùng chờ xem. Hy vọng đó chỉ là một sự nhầm lẫn...

P.K.
.
.
.