Cuốn nhật ký Anne Frank: Làm rung động hàng triệu triệu trái tim
Để tránh thảm họa phát xít, mùa hè năm 1933, ông Otto Frank bắt đầu sang Hà Lan chuẩn bị cho cuộc di cư của gia đình, trong khi đó mẹ con bà Edith về Aachen sống tạm một thời gian.
Tháng 12/1933, bà Edith và chị của Anne là Margot sang Amsterdam, Hà Lan trước, đến tháng 2/1934, Anne Frank và bố sang Hà Lan cùng gia đình sinh sống. Tại đây, Anne theo học lớp mẫu giáo tại Trường Montessori.
Năm 1940, Hà Lan bị bọn Đức Quốc xã chiếm đóng, Anne Frank cùng gia đình ẩn náu trong một căn phòng kín tại một nhà kho ở ngôi nhà số 263 phố Princegracht, Amsterdam, của gia đình Anne Frank từ tháng 9/1942, với sự giúp đỡ về lương thực, thực phẩm của một vài người bạn Hà Lan.
Gia đình Anne Frank sống an toàn cho đến ngày 4/8/1944, khi bọn mật vụ Gestapo Đức được bọn chỉ điểm báo, đã phát hiện ra căn phòng bí mật nơi ẩn náu của gia đình Anne Frank. Anne Frank và gia đình lần lượt bị chúng bắt đưa đến trại tập trung Westerbork (Hà Lan), sau đó chúng đưa họ đến trại tập trung Auschwitz (Ba Lan), rồi cuối cùng đưa đến Bergen - Belsen vào tháng 9/1944. Tại đây, mẹ của Anne Frank chết vào tháng 1/1945. Còn Anne Frank và chị gái Margot chết vì bị viêm phổi cấp trong trại tập trung vào tháng 3/1945, chỉ một vài tuần trước khi trại này được giải phóng.
Cha của Anne Frank, ông Otto Frank được Hồng quân Liên Xô cứu sống ở trại tập trung Auschwitz ngày 27/4/1945. Sau đó trở lại Hà Lan, ông Otto Frank được những người quen biết trao lại tập nhật ký được tìm thấy trong căn phòng bí mật, sau khi cả gia đình bị bắt. Đây là cuốn nhật ký do Anne Frank, cô bé 13 tuổi viết.
Trong cuốn nhật ký, Anne Frank ghi đầy ắp những câu chuyện thường ngày của Anne Frank, những suy nghĩ của cô về cha mẹ, chị và những người sống quanh cô, những hàng xóm láng giềng, thậm chí trong đó có những nhận xét rất đúng đắn, nghiêm túc về chủ nghĩa phát xít Hitler, những bất công mà cô, gia đình cô, và cả dân tộc Do Thái của cô phải gánh chịu.
Cuốn nhật ký được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Hà Lan năm 1947 và sau đó được dịch ra Anh ngữ với nhan đề "The Diary of a young girl". Cho tới nay nó đã được dịch ra trên 50 thứ tiếng.
Nhật ký Anne Frank đã trở thành một tác phẩm kinh điển về lương tri và khát vọng hòa bình của con người. Nhật ký Anne Frank là một cuốn sách rất hay, nó không chỉ mang lại cho người đọc những tư liệu lịch sử quý giá, sống động mà còn mang đến những tình cảm thật sự, những suy nghĩ rất trẻ con mà cũng rất già dặn của Anne Frank.
Với giá trị vĩnh cửu của quyển nhật ký của mình mà hình ảnh Anne vẫn sống mãi với nhân loại yêu chuộng hòa bình. Bởi thế nhân kỷ niệm lần thứ 75 sinh nhật của Anne Frank (16/2/2004), website đã chiếu một đoạn phim ngắn duy nhất còn lại về cô bé người Do Thái được thực hiện năm 1941, trước khi gia đình cô đi tìm chỗ trốn tránh trong suốt thế chiến thứ 2. Đoạn clip đen trắng cho thấy Anne Frank đang nhìn ra từ ban công, xem cảnh chuẩn bị làm đám cưới của một người láng giềng.
Website cũng có ảnh và lời chứng kiến của những người thân trong gia đình và những người hàng xóm, trong đó có một trong bốn người bạn thân của ông Otto Frank đã từng giúp đỡ gia đình Anne Frank trốn quân Đức Quốc xã là bà Miep Gies, một phụ nữ Hà Lan nhân hậu, lần đầu tiên được công bố dưới hình thức kỹ thuật số. Site có khoảng 20 đoạn phim ngắn mang tính lịch sử đầy đủ nhất về Anne Frank trên Internet.
Ở Việt Nam, ảnh hưởng của cuốn nhật ký của Anne Frank ("The Diary of Anne Frank") cũng rất lớn. Trong một lá thư gửi cho Anne, nhà báo Thu Thủy viết:
"Anne thân yêu!
Cho phép tôi được gọi như vậy, mặc dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ cái ngày tháng bảy định mệnh ấy, khi em cùng gia đình bắt đầu cuộc lẩn trốn bàn tay tàn bạo của phát xít. Trong tôi, em mãi mãi là Anne của ngày hôm đó, một cô bé 13 tuổi, mảnh mai, mái tóc đen nhánh, đôi mắt to tỏa sáng và nụ cười thánh thiện như một thiên thần".
Thu Thủy khẳng định: "Nếu có một tượng đài mang tên "Lương tri nhân loại" tôi hình dung nó là hình ảnh của em trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình tại trại tập trung Bergen - Belsen, đó là một cô bé gầy gò, tiều tụy, người đứng thẳng với đôi mắt sáng lạ lùng, đó là một cô bé dịu dàng như điều thiện, hồn nhiên như hoa cỏ, nhưng cũng cứng cỏi như chân lý, bên cạnh đó sẽ là lời nhắn nhủ cuối cùng của Julius Fucik:
"Hỡi loài người, hãy cảnh giác!"
