Chuyện Bác Hồ khen thưởng hai cây bút trẻ viết về đề tài công an

Thứ Năm, 07/07/2005, 07:44

Một trong 2 người đó là ông Hồ Toản, năm nay 73 tuổi, đang nghỉ hưu tại tiểu khu 2, phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Chúng tôi sững sờ và thán phục khi ông rút trong bọc nilon ra một bức thư, bút tích của Bác Hồ gửi cho lớp huấn luyện khóa II, Nha Công an Việt Nam (5/1950) tại Việt Bắc, mà ông là nhân vật được Bác khen trong nội dung bức thư đó.

Ông Toản tiếp chúng tôi trong ngôi nhà gạch cũ kỹ, nền đất, không có cửa, được xây từ năm 1989 đến nay mà chưa hoàn thành. Ngoài cái tivi đời cũ, còn lại đồ vật trong nhà ông chẳng có gì quý hơn. Dáng ông thấp lùn nhưng chắc khỏe. Ông rất ít nói. Nếu ông không mở tủ lấy ra cho chúng tôi xem, ngoài tấm bằng Huân chương Chiến công hạng nhất, còn có đến 20 cái bằng huân huy chương và bằng khen các loại, thì khó mà biết được ông có một gia tài “cổ tích”. Đó là những chiến công thầm lặng trong quãng đời làm điệp báo viên của Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế và sau đó là của Công an Quảng Bình...

Theo lời ông Hồ Toản, bức thư của Bác Hồ là do các đồng chí lãnh đạo Ty Công an tỉnh Thừa Thiên chuyển tặng mà ông đã cất giữ hơn 40 năm nay. Sau đó chúng tôi tìm đọc cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội, ấn hành năm 2002, trang 579 cũng thấy có in bức thư này. Tìm đọc báo CAND số 899 ra ngày 19/5/2000 ở trang 5, thấy nói về bức thư ấy (qua lời kể của ông Phan Chuyết - Đại tá Công an khi đang nghỉ hưu ở thành phố Huế, người viết bài báo được Bác Hồ khen) năm xưa.

Để phục vụ kháng chiến chống Pháp mau thắng lợi và tạo dựng đội ngũ cán bộ cốt cán, chủ chốt trong ngành Công an, từ cuối năm 1949, đầu năm 1950, thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ ta, ông Lê Giản, Tổng Giám đốc Nha Công an Việt Nam quyết định triệu tập những cán bộ Công an có năng lực từ các cơ sở trong toàn quốc về chiến khu Việt Bắc để tham gia những lớp huấn luyện cấp tốc. Một trong những nội dung học tập của học viên các lớp huấn luyện này là tổ chức cuộc thi viết báo. Đề tài các bài viết là những người tốt, việc tốt trong ngành Công an ở các cơ sở, nhằm khích lệ động viên tinh thần xả thân vì cách mạng của mọi nguời.

Khóa I có hơn 300 học viên. Khóa II (tháng 5/1950) có hơn 100 học viên. Dù bận trăm công ngàn việc, nhưng Bác Hồ không những đến thăm, mà còn theo dõi và đọc tất cả các bài báo của học viên của cả hai khóa. Sau khi “chấm” các bài của khóa II, Bác Hồ đã có bức thư gửi cho tất cả các giáo viên và học viên toàn khóa như sau:

Ở một ban H.L khác có hơn 300 học viên, họ đã gửi hơn 150 mẩu chuyện. Ban H.L Công an hơn 100 người, mà chỉ có 17 chú viết.
Các chú nghĩ thế nào? “Công an là bạn dân”, thì những việc, nhất là những việc oanh liệt của quân và dân các địa phương, công an cần phải biết rõ. Vậy, sau này các ban cần phải chú ý hơn nữa, cố gắng hơn nữa.
Trong 17 mẩu chuyện, có hai chuyện trội hơn cả là chuyện hai cháu nhi đồng. Vậy Bác gửi lời cám ơn và khen ngợi những chú đã gắng viết và hai giải thưởng:
Giải thứ nhất, 1 cái huy chương cho chú đã viết chuyện “Em Tuấn”.
Giải thứ nhì, một ngôi sao đỏ, cho chú đã viết chuyện “Em Hồ Gà”.
Những chú đã được giải thưởng cần cố gắng thêm. Những chú chưa viết hoặc chưa được giải thưởng phải ra sức nữa, để lần sau giật cho được giải thưởng. Chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 5/1950
Hồ Chí Minh.”

“Ban H.L Công an” trong thư Bác chính là lớp huấn luyện của Nha Công an Việt Nam, tiền thân của Trường đại học An ninh sau này.

“Một cái huy chương” như trong thư bác viết chính là huy hiệu Bác Hồ và “Ngôi sao đỏ” là huy hiệu Cờ đỏ sao vàng. Hai phần thưởng của Bác Hồ đối với hai tác giả “làm báo không chuyên” lúc đó là vô giá, nó đã theo cuộc đời cách mạng của hai ông.

Theo hồi ức của đồng chí Lê Giản, những bài viết tiêu biểu này sau đó đã được chuyển sang in ở tờ báo của lực lượng Công an nhân dân.--PageBreak--

Qua bức thư, mọi người thấy rõ, Bác đã phê phán tinh thần hưởng ứng viết báo của khóa II yếu hơn khóa I. Đồng thời, Bác đã “khuyên son” được 2/17 các bài báo đã viết ấy và có tặng thưởng đích đáng, động viên kịp thời các tác giả được khen.

Chuyện “Em Tuấn” là của tác giả Trương Văn Hà và ông Phan Chuyết sau đó đều là Đại tá Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế. Sau một thời gian nghỉ hưu đã mất tại Huế năm 2004.

“Em Tuấn”, “Em Hồ Gà” đều ở tỉnh Thừa Thiên. Tuấn người làng Quảng Thuận, Quảng Điền; còn Hồ Gà là người Xuân Phú, Anh Cựu. Hai em đều làm liên lạc cho cách mạng. Tuấn làm liên lạc cho Đảng ủy xã; còn Hồ Gà liên lạc cho đội cảm tử Phan Để do ông Trần Việt Châu, Trưởng phòng Chính trị và Đặng Thanh (sau này là tác giả cuốn sách “X30 phá lưới” nổi tiếng sau giải phóng), Trưởng ban Công ngoại, và ông Nguyễn Đình Bảy (tức Bảy Khiêm) Trưởng ban Điệp báo, (sau này là Giám đốc Công an tỉnh Bình Trị Thiên). Hai em đều bị giặc Pháp bắt được khi đang làm nhiệm vụ. Cả hai em đã chịu đựng mọi tra tấn, dụ dỗ, quyết không làm lộ bí mật của Đảng.

Năm 1955, “Em Tuấn” ra Bắc, công tác tại Công ty Điện máy thuộc Bộ Nội thương. Sau giải phóng 1975, ông chuyển vào công tác ở Đà Nẵng.

“Em Hồ Gà” nhân vật trong bài báo “người tốt, việc tốt” của Phan Chuyết sau được Ban lãnh đạo tỉnh Công an Thừa Thiên đổi tên là Hồ Toản. Năm 1956, ông chuyển ra Bắc công tác tại Ty Công an Quảng Bình.

Ông Hồ Toản kể: “Lần tôi bị giặc bắt là khi đang chuyển thư của ông Trần Việt Châu cho nữ ca sĩ Tân Nhân (người sau này nổi tiếng hát bài “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ). Tôi bị chúng tra tấn và giam đói mấy ngày trong xà lim, quyết không hề tiết lộ bí mật của Đảng, của ngành. Khi chúng thả tôi cũng là lúc có một nguồn tin: Hồ Gà đã tiết lộ bí mật về một số cán bộ cách mạng ta đang hoạt động trong lòng địch. May mắn, một tuần sau nỗi oan của tôi được giải tỏa vì một tên tay sai của Pháp làm việc ở Phòng Nhì, tỉnh Thừa Thiên bị cách mạng bắt được đã công nhận tôi không hề khai báo gì, nguồn tin kèm theo chúng tung ra chỉ là cái “chiêu” để dụ dỗ cán bộ cách mạng ra đầu hàng. Bác Hồ khen tác giả Phan Chuyết đã viết “người tốt, việc tốt” cũng như bác đã khen tôi. Vì thế bức thư của Bác khen là báu vật của đời tôi và cả con cháu mai sau”.

Ngày 3/9/1972, giặc Mỹ ném bom B52 xuống xóm Cộn, Đồng Sơn, Đồng Hới, Quảng Bình. Vợ ông Hồ Toản  hy sinh cùng 81 người khác trong trận bom định mệnh ấy. Khâm liệm vợ xong, ông lại cùng đi với dân quân, cán bộ địa phương, nhặt xác khâm liệm tiếp những người đã bị giặc Mỹ giết hại. Sau năm đó, ông Hồ Toản xin nghỉ hưu, chuyên giúp bà con trong vùng khi có việc hiếu. Một nỗi khổ của những người được ông giúp là, không sao mời ông ăn được bữa cơm thân mật mỗi khi xong việc. Có người bỏ tiền trong phong bì đến nhà ông “trả ơn” đều bị ông mắng và bắt phải cầm về.

Với đồng lương hưu cùng tiền giữ xe đạp ở chợ Đồng Sơn của bà vợ kế, ông đã nuôi dạy 6 đứa con. Bây giờ các con của ông đã có cuộc sống tạm ổn. Riêng anh con trai đầu lại đi theo nghiệp cha, hiện là trung tá công an, công tác tại Công an thành phố Huế.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Hồ Toản như một cái kho “cổ tích” chiến công. Đó có thể là đề tài về người chiến sĩ Công an Việt Nam của một cuốn tiểu thuyết dày, mà tôi và nhiều đồng nghiệp cầm bút khác đang nuôi khát vọng khi tiếp xúc với ông

Hồ Ngọc Diệp
.
.
.