Chùa Tổ trong đời sống tâm linh người Việt

Chủ Nhật, 01/10/2006, 08:29

Đài Truyền hình Việt Nam gần đây có phát phóng sự: “Cần bảo vệ các di tích văn hóa” trong đó có nói đến sự xuống cấp nghiêm trọng của chùa Tổ. Ngôi chùa vốn là một địa danh văn hóa lâu đời, cội nguồn của Phật giáo Việt Nam này đang rất cần sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và phật tử gần xa để gìn giữ bảo tồn.

Chùa Tổ tên chữ là Phúc Nghiêm Tự, ở xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng vào thế kỷ thứ II sau Công nguyên, thuộc Trung tâm Luy Lâu, cái nôi của Phật giáo Việt Nam, ngày xưa đây cũng là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị của đất nước. Chùa gắn liền với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương và hệ thống Phật Tứ Pháp đầu tiên ở Việt Nam. Vậy đạo Phật đã đến Việt Nam như thế nào và tại sao chùa Tổ lại có vị trí lịch sử trong quá trình hình thành Phật giáo tại Việt Nam?

Người ta không biết chính xác năm sinh và năm mất của Phật Thích Ca, nhưng hình như các sách đều ghi Đức Phật sinh năm 566 và mất năm 486 trước Công nguyên, từ đó, đạo Phật được những đoàn khách bằng đường bộ và đường thủy. Việt Nam ở giữa hai ngả đó. Sử sách viết về quá trình đạo Phật đến Việt Nam không nhiều nhưng một số học giả chủ trương rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam đồng thời với Trung Hoa và đều do các nhà sư Ấn Độ mang tới.

Sách “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” cho rằng vào đời Hiến Đế nhà Hán (168 - 189) có một vị sư tên là Kỳ Vực đến Luy Lâu. Khâu Đà La, một vị thánh tăng, trên bước đường giảng đạo cũng đến Luy Lâu vào thời gian này. Đến đây, Khâu Đà La gặp một ưu Bà Tắc tên là Tu Định cung thỉnh họ ở lại. Kỳ Vực chối từ, còn Khâu Đà La nhận lời về nhà Tu Định ở. Tu Định sai con gái lo thắp đèn và dọn cơm cho sư, độ một tháng sư ngỏ ý ra đi, Tu Định cho con gái là A Man đi theo chăm sóc sư.

Điều mà “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” kể hoàn toàn phù hợp với một cuốn sách vào loại sớm nhất nước ta: “Báo cực truyện”.

Vậy mối duyên khởi giữa đạo Phật Ấn Độ và đời sống tâm linh người Việt đã được giải thích như thế nào?

 Vì lẽ một hôm A Man ngủ trước cửa chùa, Sư Hành Pháp về, vô ý bước qua người A Man... Tự nhiên từ đó A Man mang thai, 14 tháng sau sinh con gái.  Sư Khâu Đà La đưa bé đến gửi vào một cây đa. Đến năm Giáp Tý, mưa bão đánh đổ cây. Cây trôi về làng Dâu thì không trôi nữa. Dân làng xô nhau ra kéo nhưng không đưa được cây vào bờ, Man Nương biết chuyện liền ra sông. Nhờ có sự giao cảm của tình mẫu tử, nàng quăng dải yếm ra và kéo được cây vào bờ.

Sĩ Vương được Phật báo, sai người lấy thân cây tạc bốn pho tượng đặt tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Tạc đến khúc giữa thì rìu đá chạm trong ruột cây, thợ mộc vô ý ném đá xuống sông... Hòn đá phát sáng rực rỡ, vì đó chính là con gái của Khâu Đà La - Man Nương hóa thành. Hòn đá ấy chính là Phật Thạch Quang (Thạch Quang Vương Phật), hiện đang được thờ tại chùa Dâu. Còn bốn pho tượng Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện được thờ tại những ngôi chùa tương ứng là chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, và chùa Dàn. Người dân khắp nơi tới đây đề cầu mưa không lúc nào không linh nghiệm.

Khi Mẫu Man Nương mất vào ngày 8/4 (ngày mẫu sinh Thạch Quang Vương Phật cũng là ngày 8/4) thì ngày này được lấy là ngày sinh của Phật và Mẫu Man Nương được tôn là Phật Mẫu - Mẹ Phật của Việt Nam. Ngôi nhà cha mẹ của Mẫu được biến thành chùa, đó là tục “hóa gia vi tự”, và ngày giỗ Mẫu là ngày của phồn vinh, ân huệ. Người đời có câu:

Mồng tám tháng tư không mưa
Bỏ cả cày bừa mà lấp lúa đi”.

Từ đó ngôi chùa này được gọi là chùa Tổ. Như vậy, kết quả của cuộc hôn phối tinh thần giữa một vị chân tu thông tuệ (tượng trưng cho một tôn giáo lớn) và một người con gái bản địa (tượng trưng cho tín ngưỡng dân gian) hay nói cách khác kết quả của sự giao thoa văn hóa giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng tâm linh người Việt là hệ thống Phật Tứ Pháp, bốn vị Phật mang đậm tính dân gian của người Việt mà có người gọi không sai là Phật giáo dân gian.

Vậy đó, ngôi chùa Tổ đã ra đời như vậy và đã có vị trí từ thuở ban đầu hình thành Phật giáo tại Việt Nam. Ngôi chùa Tổ này đã tồn tại ngót nghét 2.000 năm và suốt 2.000 năm ấy, phật tử và đông đảo người dân Việt Nam đều tôn trọng, sửa sang cẩn thận.

Ngày nay, hệ thống Tứ Pháp đã được nhân rộng ở nhiều nơi nhưng chùa Tổ, gốc của Tứ Pháp thì chỉ có một và đã trải qua hàng ngàn năm cũng chỉ có một mà thôi. Hàng năm, vào ngày lễ hội chùa Dâu, ngày hội Tứ Pháp truyền thống, ngày 8/4 các vị Phật Tứ Pháp đều phải về đây bái tổ. Xưa ấy, ngày giỗ Tổ mồng 8 tháng 4 còn được lấy làm ngày nghỉ lễ toàn dân. Toàn dân được nghỉ một ngày để ở nhà lo việc thờ Tổ...

Cái điều thiêng liêng suốt 2.000 năm qua ấy thiết tưởng nó vẫn cứ mãi mãi, cứ phải là thiêng liêng. Chốn Tổ của đời sống tâm linh, của một dân tộc, một quốc gia cần phải được tôn tạo sao cho xứng đáng với tầm vóc của thời đại... Nhất thiết không thể “di dời”...

Một dự án tôn tạo trùng tu đang được tiến hành nhưng không thể thiếu sự quan tâm của các cấp chính quyền cũng như phật tử gần xa để gìn giữ tính linh thiêng, lịch sử của một ngôi chùa vào loại cổ nhất Việt Nam

.
.
.