Ba mươi năm và tập thơ chia ngọt sẻ bùi

Thứ Tư, 06/07/2005, 07:16

“Cốm non” in song ngữ, gồm năm mươi sáu bài chọn lọc từ 5 tập của Lâm Thị Mỹ Dạ: “Trái tim sinh nở”, “Bài thơ không năm tháng”, “Hái tuổi em đầy tay”, “Mẹ và con”, và “Đề tặng một giấc mơ”. Bản dịch công phu do Martha Collins, một nhà thơ Hoa Kỳ nhiều tâm huyết với văn học Việt Nam, cùng Đinh Thúy, một nhà văn Hoa Kỳ gốc Việt, thực hiện.

Hôm qua bom nổ trước thềm               
Sáng ra, trời vẫn ngọt mềm tiếng chim
Nghe hương cây vội đi tìm
Hai chùm ổi chín lặng im cuối vườn.

“Hương vườn”, một trong những bài thơ hay nhất và cũng đặc trưng nhất cho vẻ đẹp tinh tế mà sâu sắc đầy nữ tính của Lâm Thị Mỹ Dạ, được chọn mở đầu cho tập “Cốm non” (Green Rice) của chị vừa được Curbstone Press hợp tác với William Joiner Center for the Study of War and Social Consequences (Trung tâm nghiên cứu Chiến tranh và hậu quả xã hội) xuất bản tại Hoa Kỳ. Tập sách nằm trong một xê-ry do Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung phụ trách.

Đúng như Martha Collins đã viết trong “Lời giới thiệu”, sự nghiệp sáng tác của Lâm Thị Mỹ Dạ bắt đầu bằng cuộc chiến tranh mà người Mỹ gọi là Chiến tranh Việt Nam. Sinh năm 1949 tại Quảng Bình, mười bốn tuổi được giải thưởng thơ báo Quảng Bình; năm 1973 được trao giải nhất báo Văn Nghệ cho chùm thơ, trong đó có bài thơ nổi tiếng “Khoảng trời - hố bom”; giải thưởng Hội Nhà văn năm 1981-1983; giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam 1999, chị là một trong những tác giả nữ nổi tiếng nhất của thơ ca Việt Nam đương đại.

Khi viết về những mất mát của chiến tranh, Martha Collins nhận xét: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ bắt rễ trên tình cảm gắn bó sâu nặng của chị với cảnh vật, quê hương đất nước, còn những bài thơ trữ tình của chị là sự thám hiểm tình yêu, tình mẹ con, những vấn đề của phụ nữ, và đôi khi cả những trăn trở đầy khó khăn trước tuổi trung niên...

Không khác nhiều nhà thơ nữ Hoa Kỳ đương đại, Lâm Thị Mỹ Dạ khảo sát những giới hạn của vai trò người phụ nữ truyền thống, thường để thấy mình cô đơn. Không khác các nhà thơ Mỹ, nhưng có lẽ trên một nền tảng văn hóa lâu đời hơn, chị cũng biểu dương sức mạnh của những người phụ nữ khác, trong đó có cả mẹ đẻ của chị, như trong bài “Bạn gái”.

Thú thật, khi bắt đầu đọc tập thơ, tôi hơi lo cho các dịch giả. Những thách thức đối với họ là sự khác biệt không chỉ về ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống thi ca, mà cả về cách cảm nhận những sự vật bình thường nhất. “Cây na” chẳng hạn, gần gũi biết bao nhiêu với người Việt, nhất là người Việt sống ở nông thôn, sang tiếng Anh là “Custard Apple Tree”, vừa dài dòng vừa xa lạ. Rồi “nông thôn” Mỹ cũng khác nông thôn Việt Nam. Và ngay cả “đàn bà” với “woman”, dù được coi là tương đương trong bất kỳ cuốn từ điển song ngữ Anh - Việt nào, thật ra cũng không phải là một: một người phụ nữ Mỹ, với lịch sử khác, truyền thống khác, xã hội khác đâu phải là phụ nữ Việt Nam!

Thế nhưng họ đã làm được một bản dịch rất tốt và khó có thể đòi hỏi tốt hơn. Các dịch giả đã làm việc nghiêm túc đến mức khắt khe, bản dịch của họ đọc tự nhiên như thể nó được viết trực tiếp bằng tiếng Anh.    

Martha Collins sinh tại Omaha, Nebraska, năm 1940. Bà nhận bằng Cử nhân nghệ thuật tại Trường đại học Tổng hợp Stanford, và tiến sĩ tại Đại học Tổng hợp Iowa. Collins là tác giả bốn tập thơ “Some Things Words Can Do” (Đôi điều ngôn từ có thể làm, 1998); “History of a Small Life on a Windy Planet” (Chuyện một cuộc đời nhỏ nhoi trên hành tinh lộng gió, 1993); “The Arrangement of Space” (Sự sắp đặt của không gian, 1991), đoạt giải cuộc thi thơ Peregrine Smith; và “The Catastrophe of Rainbows” (Thảm họa Cầu vồng, 1985). Martha Collins cũng là dịch giả tập thơ “Những người đàn bà gánh nước sông” (1997) của Nguyễn Quang Thiều. Martha Collins nhận được nhiều giải thưởng về thơ và dịch thuật. Hiện nay bà là giáo sư dạy viết văn tại Đại học Tổng hợp MassachusettsBoston và Đại học Oberlin.

Đinh Thúy là một nhà văn Hoa Kỳ gốc Việt, hiện sống bằng nghề luật sư tại Washington DC. Bà tốt nghiệp chuyên khoa Văn học Anh và Văn học Pháp tại Đại học Virginia năm 1984 và nhận bằng luật (JD) năm 1987. Tác phẩm của bà đã được in trên nhiều tạp chí có tiếng ở Mỹ.

John Balaban, nhà thơ Mỹ đã dịch Hồ Xuân Hương và có nhiều đóng góp to lớn vào việc bảo tồn di sản chữ Nôm, viết: “Một điều thú vị trong thơ Mỹ Dạ - có lẽ cũng đặc trưng cho thơ Việt Nam - là cách thức độc đáo của tác giả để từ phong cảnh, đồng ruộng, núi sông, hương cây vị quả v.v..., gợi lên tình cảm con người; từ những hình ảnh phi thời gian chắt lọc ra cái tôi của thời hiện đại. Để chuyển tải chúng sang tiếng Anh, Lâm Thị Mỹ Dạ không thể tìm được dịch giả nào tốt hơn là Đinh Thúy và Martha Collins, một nhà thơ Mỹ đã từng học tiếng Việt và cảm nhận một cách tinh tế âm nhạc của nó”. 

Còn Martha Collins thì viết: “Sự cộng tác dịch cuốn sách này mang nhiều ý nghĩa thú vị: tập thơ do một phụ nữ Việt Nam bắt đầu sáng tác trong cuộc chiến tranh Việt Nam, và nó được dịch sang tiếng Anh bởi một nhà văn nữ Hoa Kỳ gốc Việt, người rời khỏi Việt Nam khi chiến tranh kết thúc, và một nhà thơ Hoa Kỳ từng phản đối cuộc chiến tranh ấy khi còn biết rất ít về nơi cuộc chiến nổ ra. Nói như lời Lâm Thị Mỹ Dạ trong bài “Bạn gái”, quá trình dịch thuật này chính là cách chia cùng ngọt, đau”.

Sự ra mắt của tập thơ đúng vào dịp kỷ niệm ba mươi năm chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam khiến nó còn mang thêm nhiều ý nghĩa khác

Ngô Tự Lập
.
.
.