Âm vang những vần thơ thoát ngục

Thứ Sáu, 31/08/2007, 14:20
Ngày 29/8/1942, đồng chí Hồ Chí Minh bị bắt giữ tại Túc Vinh (Quảng Tây - Trung Quốc) cũng là ngày bài thơ đầu tiên trong "Ngục trung nhật ký" 133 bài ra đời, bài "Túc Vinh mà để ta mang nhục". "Ngục trung nhật ký" đến nay đã tồn tại được 65 năm và sẽ còn sống mãi trong ngôi đền Thơ Cách Mạng Việt Nam.

Nhiều nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước đã có nhiều công trình đánh giá, ca ngợi "Ngục trung nhật ký". Nhà phê bình văn học nổi tiếng người Cuba Oan Uyt Man viết trong lời giới thiệu "Ngục trung nhật ký" xuất bản tại Lahavana: "...Mở tập thơ, ta thấy một con người..."!.

Ông Quách Mạt Nhược - nguyên Viện trưởng Viện Hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc đánh giá: "Ngục trung nhật ký" có nhiều bài rất hay. Nếu để chung với "Đường Thi Tam Bách Thủ" (300 bài thơ Đường hay nhất) thì khó mà phân biệt...!".

Trong bài viết này tôi xin có đôi điều cảm nhận về những vần thơ "Thoát ngục" của Hồ Chí Minh.

Trước hết, chúng tay hãy tìm hiểu tại sao Trung Hoa Quốc dân đảng lại rắp tâm bắt giữ, giam cầm trái phép Hồ Chí Minh qua 16 trại giam, biệt giam trong 13 huyện, thị, thành phố tỉnh Quảng Tây với khoảng thời gian 377 ngày (29/8/1942 – 10/9/1943)?

Như chúng ta biết: Từ giữa năm 1942 trở đi, cục diện Thế chiến II chuyển biến nhanh chóng có lợi cho phong trào Giải phóng dân tộc trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng.

Hạ tuần tháng 8/1942, Hồ Chí Minh quyết định đi Trùng Khánh (nơi Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc sơ tán) gặp gỡ các phái bộ trong phe đồng minh và phái đoàn Đảng Cộng sản Trung Quốc; tranh thủ sự ủng hộ, phối hợp đấu tranh chung. Ông Lê Quảng Ba được cử đi tháp tùng Người, chẳng may trên đường đi bị ngã trẹo chân phải ở lại thôn Pá Mông, gia đình Từ Vĩ Tam - một trong những người anh em kết nghĩa với bác Hai (Hồ Chí Minh). Dương Đào, người Choang mới 19 tuổi tình nguyện tháp tùng bác Hai đi tiếp.

Chiều 29/8/1942, hai bác cháu vừa đến Túc Vinh, bất ngờ bị cảnh sát địa phương chặn đường xét giấy tờ tùy thân. Họ kiếm cớ gì đó giữ 2 bác cháu tại trụ sở thị trấn.

Sáng 30/8/1942, theo lệnh Huyện trưởng huyện Thiên Bảo, cảnh sát áp giải 2 bác cháu lên huyện lỵ chờ lệnh cơ quan đại diện đặc biệt của Chính phủ Trung ương tại Quế Lâm, lệnh của Bộ Tư lệnh Đệ tứ Chiến khu đóng tại Liễu Châu.

Sáng 2/9/1942, lệnh đặc biệt ở Quế Lâm và Liễu Châu áp giải Người và Dương Đào trở lại Tịnh Tây để cứu xét.

Từ những tháng cuối năm 1939, sau khi ký Hiệp ước Đồng minh với Liên Xô, Mỹ, Anh; Tưởng Giới Thạch chủ trương "Hoa quân nhập Việt" để đánh Nhật! Ông ta cấp tốc thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương (thuộc Bộ Tư lệnh Đệ tứ Chiến khu) đóng tại Tịnh Tây với một đội quân đông đảo nhiều sắc lính: Bộ binh, cơ giới, công, pháo, trinh sát (tháng 8/1945, Tưởng Giới Thạch xua 200 ngàn Hoa quân nhập Việt để thu nhận vũ khí quân đội Nhật bại trận. Ông ta còn giao cho các tướng Lư Hán, Tiêu Văn, Bạch Sùng Hy: "Cầm Hồ, diệt Cộng")!

Bên cạnh Bộ Tư lệnh tiền phương là Bộ Tư lệnh biên cảnh do Tướng Trương Bội Công - một người Việt lưu lạc sang Tàu đã lâu, làm Tư lệnh trưởng (Trương Bội Công nhập quốc tịch Tàu, vào đảng Quốc dân Tàu, lấy vợ Tàu). Đội quân biên cảnh của y đông tới ngàn quân có nhiệm vụ thọc sâu vào nội địa Việt Nam đề dò xét phong trào Giải phóng dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo; Dò xét các hoạt động quân sự của quân đội Nhật tại Việt Nam.

Trương Bội Công còn ôm mộng lớn: Trở về làm Tổng thống Việt Nam Dân quốc! Ông ta đã thành lập tổ chức chính trị: "Việt Nam Giải phóng ủy viên Hội", tự phong làm Chủ tịch.

Đầu năm 1942, một nhóm thám báo từ Cao Bằng về Tịnh Tây trình lên Trương Bội Công tờ truyền đơn "Lời kính cáo Quốc dân" do Nguyễn Ái Quốc thay mặt "Việt Nam độc lập đồng minh" (Việt Minh) ký tên, kêu gọi nhân dân các dân tộc Việt Nam hăng hái tham gia Việt Minh đánh Pháp đuổi Nhật giành chính quyền về tay nhân dân!

Cầm tờ "Lời kính cáo Quốc dân" trên tay, Trương Bội Công như ngồi trên đống lửa, lạc giọng:

- Ông Nguyễn Ái Quốc đã về Việt Nam? Ông ta về từ bao giờ? Bằng đường nào?

Khi Liễu Châu và Quế Lâm được mật báo về sự xuất hiện một người Việt Nam đã có tuổi tên là Hồ Chí Minh, họ nghĩ ngay đến Nguyễn Ái Quốc. Ông ta sang Trung Quốc không phải để đi Trùng Khánh. Có lẽ ông ta đến Liễu Châu để tuyên truyền lôi kéo số chính khách Việt Nam đang sống ở Liễu Châu chuẩn bị Đại hội Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội do Đệ tứ Chiến khu chủ trì, tài trợ sẽ họp vào tháng 10/1942!

Nhưng, ông Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc thì chỉ có những người ở Tịnh Tây mới nhận diện được.

Sáng 3/9/1942, trên đường đi chợ huyện, chị gái ông Từ Vĩ Tam vô tình thấy bác Hai và Dương Đào bị cảnh sát xích tay áp giải về huyện lỵ. Biết là chuyện chẳng lành, bà vội chạy về nhà báo tin. Lúc này ông Lê Quảng Ba đau chân còn ở lại nhà Từ Vĩ Tam.

Sáng hôm sau, Vương Tích Cơ - một người em kết nghĩa với bác Hai cùng Lê Quảng Ba lên huyện lỵ, nhờ một người quen trong huyện đường bí mật gặp bác Hai đang bị câu lưu ngoài trại giam.

Hồ Chí Minh vội viết trên lề một tờ báo gửi cho các đồng chí ở nhà dặn dò một số việc.

Ông Phạm Văn Đồng (Lý Tống) đã gửi điện khẩn cho Chính phủ Trùng Khánh: "Hồ Chí Minh tiên sinh - đại diện cao cấp của Phân hội Việt Nam Hội Quốc tế chống xâm lược trên đường đi Trùng Khánh bàn việc phối hợp đấu tranh với đồng minh chống phát xít đã bị nhà cầm quyền địa phương bắt giữ trái phép, hiện bị giam tại Tịnh Tây. Yêu cầu quý quốc trả tự do ngay cho Hồ tiên sinh".

Vài ngày sau, vài ngày sau nữa, ông liên tục gửi điện khẩn cho Chính phủ Trùng Khánh với nội dung tương tự.

Ông còn viết thư gửi ông Hồ Học Lãm người cùng quê với Hồ Chí Minh - nhà chí sĩ yêu nước cùng thời với Phan Bội Châu. Thư vẻn vẹn 2 hàng chữ: "Lão đồng chí Hồ Chí Minh đã bị bắt giữ tại biên giới. Nhờ cụ tìm cách giải cứu!"

(Còn nữa)

.
.
.