“Âm vang dòng Thạch Hãn”

Thứ Bảy, 08/09/2007, 12:30
35 năm sau 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa Quảng Trị 1972, mùa hè năm 2007 này, các cựu chiến binh, sinh viên cùng nhau tập hợp 81 bài thơ của 18 tác giả, trong đó có 3 người là liệt sĩ, thành tập thơ có tên chung "Âm vang dòng Thạch Hãn".

Cảm động biết bao khi nhiều bài thơ được gửi tới Ban Biên tập không còn nguyên vẹn, nhiều trang viết sém lửa na-pan hoặc bị vùi trong đất. Tập thơ dày hơn 200 trang này được Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 4/2007.

Không ai lựa chọn chiến tranh, nhưng chiến tranh lại chọn thế hệ thanh niên - sinh viên ngày ấy để thử nghiệm phẩm chất làm người. "Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu/ Dẫu hòn bi lăn hết vòng tuổi nhỏ" (Hoàng Nhuận Cầm); "Những lồng ngực trẻ trai ưa "kéo gỗ" ngủ say hơn nín thở bóp cò/ Qua khe ngắm đầu ruồi phải nhìn bằng một mắt/ Cuộc đời là gạch nối giữa còn và mất/ Bài ca cất lên giữa mất và còn" (Đoàn Xuân Hòa).

Không ai chọn lựa sự gian khổ, nhưng gian khổ thiếu thốn lại làm bật dậy giá trị tinh thần cao quý, làm nên sức mạnh chiến thắng. "Đôi chân phồng hãy luồn thêm sợi chỉ/ Túi cóc balô phồng lên trang nhật ký" (Trần Lê An); "Chia đầu người hạt muối buổi liên hoan/ Gian khổ mà vui lớn dậy những binh đoàn" (Nguyễn Xuân Hạnh).

Không ai chọn lựa sự ly biệt, nhưng ở hai đầu nỗi nhớ, tình yêu càng róng riết, cháy bỏng hơn. Người lính bồi hồi nhớ về người yêu ở hậu phương, chào hậu phương lớn miền Bắc trước khi vào trận đánh, và ngờ đâu, đó là trận đánh cuối cùng của anh: "Đêm trắng trong là đêm của em/ Đèn thành phố và sao trời lẫn lộn/ Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn/ Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa" (Nguyễn Văn Thạc).

Không ai lựa chọn cho mình cái chết, nhưng sự sống cũng không bao cấp cho bất kỳ ai giữa chảo lửa khổng lồ. "Chúng tôi đây những anh chàng binh bét/ Đã quyết ra đi thấy chết chẳng cúi đầu" (Trần Lê An); "Cái ô trông toạc trời bom nổ/ Hạnh phúc là cuộc chiến bốc đi còn sót lại cuộc đời" (Đoàn Xuân Hòa). Họ chấp nhận cái chết một cách đầy thanh thản: "Đêm ấy con vào khu vườn cấm/ Không hái táo - mà đi gỡ bom/ Tròn tuổi hai mươi con chỉ biết/ Đỏ mặt khi người ta hôn" (Hoàng Nhuận Cầm).

Đi suốt "Âm vang dòng Thạch Hãn" là tâm hồn lạc quan phơi phới của một thế hệ nhà thơ - chiến sĩ, những chàng sinh viên xếp bút nghiên ra trận. Ta bắt gặp ở đây nỗi nhớ mẹ, nhớ nhà da diết, tình đồng đội trong sáng, tình quân dân thắm thiết sâu nặng. Giữa tiếng gầm rú của máy bay phản lực, vẫn nghe văng vẳng trong gió tiếng cười trong trẻo của cô thanh niên xung phong, tiếng chim kể chuyện trên đồi chốt. Giữa khét lẹt khói lửa đạn bom, người lính vẫn cảm nhận từng mùi rạ thơm. "Đường tôi hành quân trong đêm/ Hoa đã lẫn vào bầu trời tím biếc/ Có nhìn thấy hoa đâu mà tôi vẫn biết/ Hoa mùa hè nhuộm tím cả trời mây" (Nguyễn Văn Thạc).

Song có lẽ, bao trùm lên toàn bộ âm hưởng của tập thơ là tấm lòng tri ân với những đồng đội đã hi sinh và sự ác liệt đến nghẹt thở. 35 năm, những người lính Quảng Trị chưa quên bạn bè mình chết trẻ. Địa danh Thành cổ vẫn còn là một nỗi ám ảnh, một món nợ lớn của những người đang sống với đồng đội đã hi sinh.

"Hình như ai gọi tên mình/ Bóng lay phay cành lá/ Thằng Dũng Nghệ An, thằng Lê Thanh Hóa/ Thằng Thắng Thái Bình, thằng Sơn Hà Tây…" (Đoàn Xuân Hòa); "Đêm Thành cổ ngổn ngang gạch ngói/ Đoạn chiến hào đầy tiếng chuột kêu, bầy chuột đói gặm xương người" (Nguyễn Đức Mậu); "Tám mươi mốt ngày đêm đất trời ken dày bom đạn/ Cát trắng rang vàng nghiêng lệch cả dòng sông" (Phạm Đình Lân)…

Trên dòng sông Thạch Hãn mênh mang sóng nước, trong 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972, hàng vạn người lính bơi qua sông Thạch Hãn vào Thành cổ và nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại với dòng sông, để rồi cựu chiến binh Lê Bá Dương ngày hòa bình, mùa hè nào cũng về với Quảng Trị chất đầy một thuyền hoa huệ trắng thả xuống sông viếng bạn, và từ tim anh, những câu thơ yêu thương ứa máu dành cho đồng đội: "Đò xuôi Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi, mãi ngàn năm".

Đó cũng chính là nỗi niềm mà các cựu chiến binh - sinh viên cùng nhau tập hợp 81 bài thơ của 18 tác giả, trong đó có 3 người là liệt sĩ… "Trân trọng tấm lòng của tác giả, chúng tôi chỉ dám biên tập rất ít, đặc biệt là các bài viết của các liệt sĩ, chúng tôi xin chép nguyên vẹn. Đâu đó câu chữ còn vụng về, nhưng biết làm sao được khi Thơ đã là một sự Thờ" - Ban Biên tập thổ lộ như vậy.

81 bài thơ, 81 ngày đêm Thành cổ, 81 nén tâm nhang sưởi ấm những linh hồn cho đồng đội: "Tôi muốn thắp nén hương thơm cho thơm cả bầu trời/ Tôi muốn khấn lên chín tầng mây vang dội/ Nơi đâu cũng máu xương đồng đội/ Biết làm sao đây cho vẹn nghĩa vẹn tình" (Tạ Quỳnh Phương); "Bạn bè ơi xin chớ có nao lòng/ Lá vẫn còn xanh như thời trẻ chúng mình hay hát" (Đoàn Xuân Hòa).

Cầu mong sao linh hồn các anh được siêu thoát, thảnh thơi…

Viết Nam
.
.
.