Ai nhìn hoa, nghĩ tóc bạc trên đầu...
"Nơi tôi ở hoa đại rơi trắng đất, Có ai nhìn hoa nghĩ tóc bạc trên đầu..." - gần ba chục năm nay, mỗi khi đi tới cửa "Nhà số 4" (tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội ở số 4 Lý Nam Đế), nhìn thấy cây đại già lom khom đứng trong mảnh sân nhỏ, trong đầu tôi luôn vang lên những câu thơ trên của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Dễ cả tuổi trẻ sáng tác của tôi đã gắn bó với ngôi nhà này dẫu tôi chưa từng một ngày được làm lính ở đó. Tạp chí Văn nghệ Quân đội là nơi in những vần thơ đầu tiên của tôi và hôm nay vẫn là một địa chỉ mà trái tim tôi luôn hướng về với nỗi biết ơn và xúc động dịu dàng.
Cái thuở ban đầu
Ở đâu cũng có người tốt nhưng trong những hồi ức làm văn, làm báo của tôi, "Nhà số 4" là nơi tập trung đông người tốt, chứ không chỉ có tài, hơn ở bất cứ nơi nào khác. Tôi là con bộ đội, ngày bé nếu có dịp được tiếp xúc với văn thơ thì chủ yếu cũng chỉ là qua Tạp chí Văn nghệ Quân đội mà bố tôi thi thoảng mang về.
Không rõ những sáng tác đăng ở đấy có phải chỉ nói "một nửa sự thật" hay không nhưng quả thực là đã khiến tôi nghĩ rằng trong quân đội chỉ toàn những điều tốt đẹp. Và tôi đã thi vào Trường Đại học Kỹ thuật quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật quân sự) sau khi học hết phổ thông cũng chỉ vì ấn tượng từ Tạp chí Văn nghệ Quân đội rằng, làm người lính tức là được sống với những người tốt nhất trên đời.
Làm tân binh được hơn một tháng, tôi đã viết được cả chục bài thơ về đời lính. Và được sự động viên của mấy chiến hữu cùng tiểu đội, tôi đã chép chúng và gửi tới địa chỉ "Nhà số 4". Rồi tôi hồi hộp chờ. Khoảng hai tháng sau, tôi nhận được thư trả lời, người ký tên ở dưới là đồng chí Doãn Trung, phụ trách trị sự của tạp chí. Thư viết trên một mẫu in sẵn, chỉ có tên tôi do bút mực điền vào.
Đại ý, chúng tôi đã nhận được thơ của đồng chí và đang nghiên cứu để sử dụng, mong đồng chí tiếp tục cộng tác... Chỉ thế thôi, nhưng nhận được thư, tôi lập tức cảm thấy vui sướng tự hào vô kể, khoe cả đại đội, cứ nghĩ mình sắp là nhà thơ nổi tiếng đến nơi rồi, chí ít thì cũng phải như... Phạm Tiến Duật (!).
Tất nhiên, những bài thơ đầu tay vụng về và ngờ nghệch ấy của tôi đã không bao giờ được in. Thế nhưng, tôi vẫn giữ nguyên niềm tin của mình vào Văn nghệ Quân đội. Và dù đi du học ở nước ngoài, tôi vẫn "tấn công" tòa soạn bằng những phong bì dày những bài thơ sáng tác, thậm chí cả quyển sổ dày cộp chép toàn thơ gửi người mang tận nhà cho bố tôi và bố tôi mang tới Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Anh Hồng Diệu nhận tập sách đó, trong có bài thơ bốn câu mà tôi viết tặng cô bạn gái cùng lớp hồi phổ thông: "Ngang vai tóc thả mượt mà, Mắt nhìn ai, mắt thoảng qua tia cười. Dịu dàng khẽ mím bờ môi, Chắc em không biết có người hôn em...". Đọc xong, anh nói với bố tôi, em thấy cậu này có tâm hồn thi sĩ đấy!
Hè năm 1982, về phép từ Liên Xô, nghe bố tôi kể lại chuyện này, tôi tìm tới "Nhà số 4". Tới sân vào tầm gần trưa, thấy một người đàn ông vóc dáng bé nhỏ, đang phơi quần áo lên dây, tôi hỏi thăm. Người đàn ông hỏi tên tôi rồi reo lên: "Hồng Thanh Quang hả? Vào đây em! Mình là Hồng Diệu đây!".
Vồn vã, niềm nở, chân tình! Chúng tôi đã trò chuyện với nhau như đã quen biết từ lâu, toàn những chuyện văn thơ trên giời dưới bể thôi nhưng mà tôi cảm thấy cực kỳ vui sướng và lý thú. Rồi anh Hồng Diệu dẫn tôi sang phòng nhà thơ Anh Ngọc, lúc đó phụ trách phần biên tập văn học nước ngoài vì tôi có mang theo mình cuốn vở có chép các bản dịch thơ từ tiếng Nga.
Vào phòng, thấy nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn, khi đó đang công tác ở công trình xây dựng Nhà máy Thủy điện Hoà Bình, ngồi chơi cờ với một ai đó mà tôi không nhớ tên nữa. Anh Sơn năm ấy có bài thơ mới in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội mà tôi rất thích "Với Oveskin" nên tôi chào anh cũng hồ hởi lắm (khi mới chập chững trong nghề, cứ thấy ai có bài in trên báo hay trong sách mà mình đọc thấy thích là tôi coi như anh em gần gụi ngay; không như bây giờ, tôi đã hiểu ra rằng, có một số người viết thì hay nhưng trong đời thường, tốt nhất là không nên "dây" với họ!).
Anh Anh Ngọc ngay từ lần gặp đầu tiên đã đối xử với tôi rất chu đáo và tận tình. Anh lọc mãi mới chọn được bản dịch bài "Đàn sếu" của Rasul Gamzatov, biên tập, sửa chữa những chữ mà anh cho là "đắt" hơn và ký cho in ngay vào số tháng 11, dịp kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Mười Nga.
Tôi nhìn thấy anh ký tên vào bản thảo của mình cho đi đánh máy mà trái tim cứ rộn rã cả lên và cứ mong sao cho tới tháng 11 để được nhìn thấy những con chữ của mình, dù chỉ là trong một bài thơ dịch, được in trên tạp chí. Bởi đó không chỉ là nhu cầu "hiếu danh" mà là cảm giác như mình đã được vinh dự chạm dù chỉ một ngón tay vào ngôi đền linh thiêng của văn học! Dù mình chỉ là một hạt bụi bé xíu thôi nhưng mình cũng đã được ở trong quần tụ của những tên tuổi mà mình ngưỡng mộ từ nhỏ.
Văn nghệ Quân đội với tôi khi đó và cả bây giờ không chỉ có ý nghĩa như một tạp chí văn chương, đó là một di tích lịch sử tinh thần! Mối duyên của tôi với Văn nghệ Quân đội đã bắt đầu như thế. Từ thời điểm đó, tôi đã tự coi mình như một đứa em nhỏ của tất cả các nhà văn, nhà thơ làm việc ở đây. Ít ra là mỗi lần đến đấy, tôi đều có cảm giác là các anh chị làm việc trong ngôi nhà này rất quý tôi, coi trọng tôi, đặc biệt là nhà thơ Anh Ngọc, nhà phê bình văn học Hồng Diệu, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, nhà văn Hồ Phương, họa sĩ Quách Đại Hải, nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình, nhà thơ Lê Thành Nghị...--PageBreak--
Trong suốt thời gian du học còn lại ở Liên Xô, hầu như năm nào tôi cũng có vài ba chùm thơ dịch hoặc thơ sáng tác được in (thời ấy, đó là một vận may và vinh dự cực kỳ lớn lao!). Rồi các anh còn trao cho tôi cả tặng thưởng cuối năm về văn học dịch, mang cho bố mẹ tôi toàn bộ số tiền thưởng, điều làm tôi rất vui vì bớt đi mặc cảm vì được bố mẹ chăm lo tử tế mà tới hơn 20 tuổi, đi học ở nước ngoài nhưng chỉ mang về nhà toàn sách chứ chẳng mấy khi giúp bố mẹ và các em được chút vật chất gì... Hình như về sau những sáng tác khá nhất mà tôi viết đều đã được công bố lần đầu ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Đồng chí là anh em
Có lẽ tôi đã hiểu sâu sắc hơn điều đó khi tiếp xúc với nhiều gương mặt ở "Nhà số 4" trong gần hai thập niên cuối của thế kỷ XX. Đây không chỉ là nơi đã xuất hiện những tác phẩm mà còn là nơi bảo tồn một tinh thần ruột thịt trong lao động văn học mà có lẽ chỉ những người lính ở trên đất nước Việt
Nói vậy không có nghĩa là tính cách và phong cách của mọi người trong "Nhà số 4" đều giống nhau. Trái lại, các anh chị rất phong phú về bút lực cũng như về bản năng sống nhưng muốn nghĩ gì thì cũng phải thấy rằng, chính cái "khí thiêng" của "Nhà số 4", được kết tụ từ truyền thống Bộ đội Cụ Hồ và những tài năng cụ thể đã làm nên lịch sử của dòng văn học Quân đội đã khiến cho mọi khác biệt, thậm chí mâu thuẫn, không bao giờ bị đẩy tới tận cùng, hoặc chỉ diễn ra ở mức chưa trở thành căng thẳng.
Tôi có rất nhiều kỷ niệm với nhiều người trong "Nhà số 4", đặc biệt là trong giai đoạn từ năm 1988, khi tôi trở thành phóng viên Báo Quân đội nhân dân ở số 7 Phan Đình Phùng. Vui có, buồn có, "chính thống" có, mà cả "đời thường" cũng có...
Tôi còn nhớ, khi lần đầu được tận mắt nhìn thấy một số trong những người mà tôi đã đọc tác phẩm từ khi còn bé, tôi có lúc như không thể tin vào mắt mình nữa. Tôi đã thuộc nhiều câu trong "Bài ca chim Ch'rao" của Thu Bồn và khi giáp mặt anh lần đầu, đã có cảm giác như giáp mặt một huyền thoại. Nhà thơ cao lớn, xởi lởi, phóng khoáng, tràn trề phong độ đàn ông...
Anh có lẽ là đấng tu mi nổi bật nhất ở "Nhà số 4" trong mọi thời. Tôi đã ngưỡng vọng anh lắm nhưng ngày đó, trẻ người non dạ, tôi đã có lúc như "gồng" mình lên trước anh khi lờ mờ cảm giác rằng hình như anh cũng thích người con gái mà tôi chuẩn bị thích. Và hình như cũng có lúc anh đã không hiểu tôi vì tôi vốn tính "khẩu xà", hay ngoa ngôn khi nóng giận...
Lần cuối gặp nhau ở Hà Nội, trước khi anh ra đi vào cõi vĩnh hằng không lâu, vừa thấy tôi, anh reo lên dù giọng đã hơi bị hụt chút ít: Quang à, em phải biết rằng anh quý em lắm! Tôi đáp, trong lòng vừa xúc động vừa buồn, em cũng quý lắm anh chứ! Lần đó, nhà thơ Thu Bồn có ghi tặng tôi tập trường ca mới in lại của anh... Bây giờ, mỗi lần nghĩ tới nhà thơ Thu Bồn, tôi càng thấy mình đã quá trẻ con... Nói chung, tới gần tuổi ngũ thập rồi, người ta có thể quý mến gần như tất cả những người đàn ông đã từng phải lòng những người phụ nữ mà mình từng có tình ý. Suy cho cùng, đấy là vì họ tâm tính giống mình chứ có phải là vì họ ghét bỏ gì mình đâu (!).
Hai người đàn ông cũng vào loại "cực kỳ" ở "Nhà số 4" mà tôi từng có dịp biết, gần gụi là nhà văn Chu Lai và nhà văn Trung Trung Đỉnh. Tôi gặp Trung Trung Đỉnh khi anh còn tá túc ngay trong chính "Nhà số 4", ở căn phòng có treo ảnh của bác Thanh Tịnh. Thời ấy, tôi cũng sống một mình.
Một sáng, buồn, viết không ra chữ, lên phố Tràng Tiền, gửi xe, đi bộ xem các hiệu sách. Bỗng nhiên, gặp anh Đỉnh, hỏi, hóa ra anh cũng trong tâm trạng cô đơn tương tự. Thế là, hai anh em rủ nhau vào hiệu ảnh Hàng Khay chụp chung một kiểu làm kỷ niệm... Gần chục năm qua rồi, mỗi lần tình cờ giở ảnh ra xem lại, cứ thấy mũi mình cay cay...
Cuối năm 1988, lần đầu tôi được ngồi uống bia hơi với nhà văn Chu Lai ở Câu lạc bộ Quân đội trên đường Hoàng Diệu. Biết tôi chưa bao giờ được "phi" xe máy, anh rủ tôi về nhà. Rồi anh lấy xe đèo tôi đi khắp Hà Nội, phóng rất nhanh. Rồi hai anh em ngồi ở cửa ô Cầu Giấy, uống rượu, gặm chân gà, nói đủ chuyện bao đồng... Từ đó, chúng tôi đã trở thành thân thiết, hiểu nhau hơn cả ruột thịt. Đến mức có lần, vui miệng, anh Chu Lai bảo, anh em mình quý nhau như thế này có khi ngày giỗ về sau cũng trùng nhau mất!.. Tôi cười, chỉ thấy ngộ nghĩnh chứ không thấy lo lắng...
Vừa là đồng chí, vừa là anh em. Mong sao tinh thần đó sẽ được bảo tồn ở "Nhà số 4", với các thế hệ văn chương tiếp theo nhiều năm nữa...
