"Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"!
Để có thể nắm bắt một cách toàn vẹn, trung thực, rõ ràng hơn bản sắc văn hóa, nhiều nghiên cứu thường phải tìm hiểu biểu tượng - thành tố cơ bản, là hạt nhân mang tính kết tinh cao nhất về giá trị, ý nghĩa.
Hướng đi này cũng góp phần khắc phục lối nghiên cứu chung chung, có thể nói hay, nói đúng nhưng chưa thể nói mới, nói sâu một cách bản chất về đối tượng. Nhất là với trường hợp các danh nhân văn hóa lớn giàu có về vốn sống, hiểu biết nhiều về sự đa dạng văn hóa, vĩ đại về tư tưởng, tinh tế trong ứng xử như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xin được trình bày vài nét về biểu tượng Nhân dân trong quan niệm của Bác Hồ.
Nhân dân là biểu tượng của sự vĩ đại, lớn lao, cao quý
Trong suy nghĩ của Bác, nhân dân là biểu tượng mang tính cao quý, vĩ đại nhất: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân" ("Hồ Chí Minh toàn tập", 2011 - NXB Chính trị Quốc gia, tập 10, tr 453. Các dẫn chứng trong bài đều lấy từ bộ sách này). Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ viết 6 điều không nên và 6 điều nên làm để giáo dục cán bộ, đảng viên. Mở đầu bài báo là một chân lý "Nước lấy dân làm gốc" có ý nhắc, làm bất cứ điều gì, trước tiên cũng phải vì dân. Cuối bài là mấy câu thơ:
Quân tốt dân tốt,
Muôn sự đều nên.
Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân
(tập 5, tr 502).
Theo hướng nghiên cứu thi pháp văn học hiện đại, hình thức mang tính nội dung, "hình thức mang tính quan niệm", thì ví dụ này là rất tiêu biểu. Chủ đề 4 câu thơ nói về cái "lầu thắng lợi" thì cấu trúc hình thức là một mô hình "cái lầu" ấy, với "thân lầu" là hai câu thơ bốn chữ, "móng lầu" là cặp câu lục bát vững chãi. Văn chương Hồ Chí Minh là nghệ thuật của sự tự nhiên, vượt ra ngoài những cố tình gò câu ép chữ để trở về với những gì tươi ròng sự sống.
Trong "Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử", Nguyễn Trãi khuyên nhà vua phải "hòa thuận tông thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân". Tư tưởng nhân nghĩa ấy còn thể hiện thật sâu sắc ở phương châm "giản chính, khoan hình", "có khi dùng đến uy pháp, nhưng không nên lâu la, phải chóng trở về với nhân nghĩa". Nếu phải dùng quyền mưu, "chỉ dùng để trị gian tà. Cốt nhân nghĩa gìn giữ thì thế nước mới yên ổn".
Hồ Chí Minh học tập kế thừa tinh thần nhân nghĩa truyền thống, rõ hơn cả là tiếp thu tư tưởng khoan nhân của Nguyễn Trãi, rồi mở rộng, nâng cao, cụ thể hơn: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ" (tập 6, tr 130).
Nhân dân là biểu tượng cho sức mạnh vô địch
Bác Hồ khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống vô cùng quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" (tập 7, tr 38). Có lẽ khó có cách diễn đạt nào sinh động hơn cách dùng biểu tượng về sức mạnh lòng yêu nước, như ví dụ này của Bác.
Được dự học hai lớp huấn luyện cách mạng vũ trang (chuẩn bị khởi nghĩa 1945) do chính Bác Hồ giảng bài, đồng chí Vi Quốc Bảo thuật lại: "Nhân nói về căn cứ địa, có ý kiến hỏi Bác: - Thưa lão đồng chí! Ở miền núi thì lấy núi rừng làm căn cứ địa. Thế còn ở đồng bằng không có địa hình hiểm trở thì sao ạ? Bác cười bảo: - Có núi thì dựa vào núi, có sông thì dựa vào sông, không có núi, có sông thì dựa vào người làm sông núi… Ở đâu có người là ở đó có núi rừng, có biển cả, ta phải tổ chức, động viên sức mạnh của quần chúng thành rừng thành biển mà dựa vào…" (Nhiều tác giả - “Bác Hồ”, 1990. Hội Văn nghệ Cao Bằng, tr 94).
Ý của Bác thật rõ ràng: làm cách mạng phải dựa vào dân, lấy lòng dân làm "căn cứ địa". Khi mới bước vào con đường cứu nước, Bác đã quan niệm người cộng sản phải khơi dậy ý chí từ dân, lấy đó làm nguồn lực vĩ đại nhất của cách mạng: "Ý chí của nhân dân - một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực - một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi" (tập 1, tr 119). Quan niệm này nhất quán suốt cuộc đời cách mạng huyền thoại của Người.
"Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác"
Nói chuyện tại lớp Nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học nhân dân Việt Nam (21/7/1956), Bác lấy cách ngôn đạo Khổng, coi đó là "hạt nhân" của đạo đức cách mạng: "có thể tóm tắt trong 11 chữ: "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân". Nói tóm tắt, minh minh đức tức là chính tâm. Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết" (tập 10, tr 377).
Sau này, nhắc lại ý ấy, Bác gắn cách ngôn này với mục đích vì dân của Đảng: "Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Lúc khổ sở, khó khăn thì đảng viên ta đi trước, khi sướng thì đảng viên ta hưởng sau…" (tập 10, tr 377). Người nhắc nhở cán bộ qua những hình tượng cụ thể nhất: "Bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều là đày tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân" (tập 9, tr 145).
Tháng Tám năm 1945, đồng chí Tố Hữu hỏi Bác: "Bọn cháu ở bí mật ra, không hiểu chính quyền, xin Bác cho kinh nghiệm để về làm"… Bác nói: "Ờ, cứ hỏi dân, dân ưng cái gì, không ưng cái gì. Người ta ưng cái gì thì làm, không ưng cái gì thì đừng có làm. Làm thế nào cũng hỏi dân. Cử ai làm, cũng phải hỏi dân" (Nhiều tác giả - "Tố Hữu, về tác giả, tác phẩm", 1999 - NXB Giáo dục, tr 145, 146). Như vậy, theo Bác, chính quyền cách mạng là làm theo ý dân để phục vụ dân!
Thế giới ca ngợi Bác có cách giải quyết tuyệt vời nhất, dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để cố gắng mang hạnh phúc cho dân. Sau tháng 9/1945 nước ta vẫn trong tình cảnh kiệt quệ, vận nước mong manh bởi thù trong giặc ngoài nhưng Bác vẫn chủ trương ưu tiên hai nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Đó là tinh thần nhân văn cao cả, là tầm trí tuệ kiệt xuất trên cơ sở một tình yêu nước, yêu dân lớn lao hiếm thấy. Dân đói, dân dốt là bất hạnh lớn nhất của bất cứ quốc gia nào và ngược lại.
Các cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra ngày 18/4/2023 tại Italia (thủ đô Roma) có tên "Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia". Trước đó, ngày 14/5/2022 tại Ấn Độ có Hội thảo "Hồ Chí Minh và Ấn Độ" (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Tháng 10/2019, Hội thảo "Hồ Chí Minh toàn cầu" (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York - Mỹ.
Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh hình ảnh Hồ Chí Minh không chỉ là vị anh hùng giải phóng dân tộc, còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Bác Hồ kính yêu. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Như một lẽ tự nhiên, đến lượt Hồ Chí Minh trở thành một biểu tượng văn hóa tầm nhân loại.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là "một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".
