Sông Đăkrông còn chảy mãi

Thứ Năm, 21/07/2022, 16:21

Nhớ lại đã lâu lắm, vào khoảng năm 1962, lúc đang còn học phổ thông, tôi đã được nghe và rất thích một bài hát có tên “Lời ca không tắt” của Tố Hải viết về tấm gương hy sinh quả cảm của chị Trần Thị Vân quê ở Gò Nổi, Điện Bàn (Quảng Nam). Cắn răng chịu những đòn tra tấn dã man của quân thù, chị một mực không khai để bảo toàn cơ sở cách mạng.

Hồi đó, trong các chương trình ca nhạc của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, bài hát này rất hay được vang lên qua giọng hát của ca sĩ Diệu Thúy cùng tốp ca nữ phụ họa. Tôi có ấn tượng đặc biệt về bài hát này bởi có giai điệu nghe rất nghẹn ngào, cảm động. Nhưng tên của tác giả thì sau đó tôi không thấy xuất hiện nữa.

Cho mãi đến sau đó khá lâu, vào thời điểm trước 30/4, tôi nới thấy Tố Hải xuất hiện trở lại với một bài hát thật đặc sắc có tên “Sông Đăkrông mùa xuân về”. Bài hát có giai điệu thật hào sảng nhưng da diết, thống thiết, nghe thấy gai người. Cảm giác này không dễ có khi nghe âm nhạc. Phải đặc sắc, đặc biệt lắm mới có thể tạo nên: “Chim Kơtia bay tới, nghiêng cánh chào Đăkrông. Pơlang khoe sắc thắm, gió đưa hương đôi bờ…”.

tố hải.jpeg -0
Cố nhạc sĩ Tố Hải.

Vậy là Tố Hải có hai bài hát thật đặc sắc, ám ảnh tôi rất nhiều. Sau đó, cứ mỗi khi có dịp đặt chân tới vùng đất Quảng Nam hoặc Quảng Trị là trong tôi lại vang lên âm điệu hai bài trên (Quảng Nam là quê hương người nữ anh hùng Trần Thị Vân và Quảng Trị là địa phương có con sông Đăkrông thơ mộng và hào hùng).

Thường khi yêu thích một tác phẩm văn nghệ nào, tôi có nhu cầu gặp gỡ, tiếp xúc với tác giả. Nhưng nghe nói Tố Hải người khu 5 và sau năm 1975, đã vào sinh sống ở Nha Trang, tôi đành chờ dịp nào thuận tiện sẽ tìm gặp.

Bài “Lời ca không tắt” thì thi thoảng lắm, vào những dịp kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ, may ra mới có dịp nghe lại. Nhưng “Sông Đăkrông…” thì thường xuyên vang lên ở khắp nơi, nhất là những dịp Hội diễn, Liên hoan ca múa nhạc ở cả hai khu vực chuyên và không chuyên nghiệp. Tôi để ý thấy các ca sĩ rất hay tìm đến bài này có lẽ vì ca khúc đã rất có “đất” để họ khoe giọng, khoe mọi kỹ thuật thanh nhạc học được.

Thế rồi vào thập niên 80 của thế kỷ trước, trong một lần đi công tác ở Nha Trang, tôi đã gặp được nhạc sĩ Tố Hải. Lúc này ông công tác ở Hội Văn nghệ tỉnh Khánh Hòa và là Trưởng Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam ở tỉnh này. Dáng người hơi gầy, hom hem, trông có phần tất tưởi, vất vả với nước da đen xạm, ăn mặc xuềnh xoàng, giản dị, mới nhìn, có cảm giác ông khô khan nhưng khi đã tiếp xúc nhiều, ông trở nên rất cởi mở và vui vẻ. Tố Hải luôn chan hòa, thân thiện, nhanh chóng xóa đi khoảng cách mặc dù đó là lần đầu tiên tôi và ông gặp nhau. Ông vui chuyện, bộc lộ, tâm tình cứ như đã quen thân từ lâu, rất say sưa khi nói chuyện về sáng tác và nhớ lại những kỷ niệm trong đời, nhất là những năm tháng chiến đấu hào hùng trước năm 1970 - lúc ông trở ra Bắc tiếp tục học âm nhạc.

Tố Hải cho biết ông sinh năm 1937, có tên khai sinh là Tô Trấp, quê ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Không như các trẻ con khác ham chơi, cậu bé Trấp mê âm nhạc từ nhỏ và rất thích được đi theo các chú bộ đội, chứ không thích ở nhà. Cậu sớm bộc lộ ý nghĩ này với cha mẹ nhưng vì còn nhỏ nên đương nhiên không được chấp nhận. Tuy vậy, năm 1949, lúc 12 tuổi, cậu đã xung phong làm liên lạc khi cần thiết nhưng chưa được theo hẳn bộ đội. Cậu buồn lắm nhưng vẫn chờ cơ hội để thỏa ý nguyện. Đã mấy lần cậu tính trốn nhà theo bộ đội nhưng không thành, bị bố mẹ la mắng: “Mày còn nhỏ, đi theo để làm phiền các chú bộ đội à?”. Mãi đến năm 1953, khi cậu 16 tuổi, một lần có đơn vị bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 812 (Quân khu 5) qua nhà, cậu lại trốn theo. Lần này thì thành công vì thấy cậu cũng đã lớn, cha mẹ không đi tìm, bắt phải về nữa.

Được một thời gian thì hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954). Năm 1955, Tố Hải được ra Bắc tập kết. Ông vào học trung cấp ở Trường Âm nhạc Việt Nam (tiền thân của Học việc Âm nhạc quốc gia Việt Nam ngày nay). Năm 1961, ông tình nguyện đi B (vào miền Nam khi ấy), làm diễn viên Đoàn Văn công Giải phóng. Đến năm 1970, lại được cử ra Bắc để tiếp tục học ở Nhạc viện Hà Nội. Sau năm 1975, ông trở vào cư trú và công tác ở tỉnh Khánh Hòa tới lúc nghỉ hưu rồi qua đời mới đây vào ngày 4/7/2022.

tố hải và vợ.jpeg -0
Vợ chồng nhạc sĩ Tố Hải.

Khoảng năm 1963, tôi còn là một cậu học sinh lớp 10 rất thích hát bài “Lời ca không tắt” có giai điệu vừa rộn ràng lại vừa cảm động: “Tôi nghe tiếng ca từ lòng đất nước/ Tôi nghe tiếng ca từ giữa quê hương vượt trong đêm dài/ Tiếng ca người con gái Quảng Nam/ Tiếng ca người con gái miền Nam anh hùng/ Chị Vân ơi! Tiếng ca đời đời không tắt...”.

Tác giả là Tố Hải khi ấy còn rất xa lạ với công chúng. Sau này khi hỏi chuyện tác giả, ông kể về sự ra đời bài hát này: Hồi năm 1961-1962, trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ở khắp nơi, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp những người yêu nước. Chị Trần Thị Vân quê ở Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã nêu tấm gương sáng về ý trí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng trước quân thù. Tố Hải khi đó là một thanh niên 25 tuổi rất cảm phục tấm gương hy sinh anh hùng của chị. Trên chặng đường gùi gạo về cứ cho đơn vị, vì mệt quá mà phải nghỉ chân giữa đường. Ông miên man nghĩ về hành động quả cảm phi thường của chị Trần Thị Vân mà bật ra những nốt nhạc đầu tiên.

Ông kể rằng vừa sáng tác bài này vừa khóc vì quá xúc động. Khi đã hoàn thành, tác giả hát cho đồng đội cùng đơn vị nghe thì ai cũng không nén được nỗi xúc động mãnh liệt. Dạo đó, ở ngoài Bắc luôn giới thiệu những sáng tác văn nghệ gọi là “Sáng tác từ miền Nam gửi ra” hoặc “Tác phẩm nơi tuyến đầu Tổ quốc” được công chúng rất đón nhận và ưa thích. Bài hát “Lời ca không tắt” là một trong những tác phẩm như thế. Đến năm 1965, bài này được Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam  trao tặng.

Còn bài “Sông Đăkrông mùa xuân về” được ông phác thảo những nốt nhạc đầu tiên vào những ngày sôi động nhất của cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm Mậu thân 1968. Nhưng vì khi ấy ông bận rộn quá nhiều công việc của một diễn viên văn công giải phóng giữa thời chiến, sau đó lại được cấp trên cho ra Bắc tiếp tục học âm nhạc nên việc sáng tác bài này đành bỏ dở. Đến mùa xuân năm 1975, trước sức nổi dậy tấn công như vũ bão của quân giải phóng, Tây Nguyên và nhiều nơi khác lần lượt được giải phóng, Tố Hải đã được tiếp thêm cảm xúc để tiếp tục hoàn thành ca khúc này. Nếu nghe kỹ tác phẩm, ta sẽ thấy giai điệu bài hát diễn tả rất sinh động cái khí thế cuồn cuộn như thác đổ, sóng dâng ấy.

Khi tâm sự về nghề nghiêp, Tố Hải luôn thể hiện sự áy náy, đau đáu và tự cho rằng mình vẫn còn mắc nợ mảnh đất Quảng Nam vì chưa viết được tác phẩm nào xứng tầm với nơi này. Ông kể: Tuy Quảng Nam không phải là quê, cũng không phải nơi sinh ra nhưng ông có rất nhiều kỷ niệm sâu sắc không thể quên và  có nhiều ân nghĩa sâu nặng. Năm 1966, ông lấy vợ - một nữ diễn viên Đoàn Văn công Quân khu 5. Đám cưới được tổ chức trên một quả núi nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Khi vợ có bầu, sắp đến kỳ sinh nở, Tố Hải phải dìu vợ đi bộ vào bệnh viện C17 của Quân khu 5 đóng ở Quảng Ngãi để sinh đẻ.

Lúc trở về đơn vị, ông bị lọt vào một ổ phục kích của địch. Thật may là ông đã nổ súng chống trả và chạy thoát được. Sau đó, ông bị lạc đơn vị mất một tháng. Được bà con nhân dân nuôi, che chở rồi chỉ đường đi, ông mới tìm được về đơn vị. Lần ấy, tuy thoát được kẻ thù nhưng nếu không có sự đùm bọc, che chở của bà con dân làng, ông cũng không thể sống mà về được đơn vị. Trong khi đó, ở căn cứ, mọi người nghĩ Tố Hải đã hy sinh nên đã lập bàn thờ.

Năm 1970, Tố Hải được Tổ chức cho ra Bắc tiếp tục học âm nhạc. Vợ chồng ông phải khoét thủng chiếc ba lô để đứa con trai nhỏ nhét hai bàn chân vào đó rồi hai người thay nhau đeo ba lô đi bộ ra tới tận Quảng Bình mới có xe đến đón ra Hà Nội.

Với hai ca khúc nổi trội để đời là “Lời ca không tắt” và “Sông Đăkrông mùa xuân về”, năm 2012, Tố Hải được Chính phủ tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Mảnh đất Nam Trung bộ đã rất tự hào vì một người con của mình đã làm rạng danh quê hương bởi một cuộc đời cầm súng và cầm bút thật vẻ vang. Ông đã vĩnh viễn ra đi nhưng những gì ông để lại như dòng sông Đăkrông vẫn còn chảy mãi.

Nguyễn Đình San
.
.
.