“Cuộc đời cho ta quả quýt”!
Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.
Hai câu: “Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời” vừa có nét “bay bướm” của kẻ phong tình, vừa có cái lọc lõi của kẻ “già đời” chốn ăn chơi. Ý nói: khi Kiều (đào tiên) đã mất trinh (với gã) thì đành phải nghe/theo (vin) lời gã (quýt) cho cam phận. Tự nhận mình chỉ là nhỏ bé (quýt), nhưng đánh giá Kiều rất cao (đào tiên) chứng tỏ hắn là kẻ “biết người biết ta”. Câu thơ được cấu tạo trên cơ sở chơi chữ, ẩn dụ, với ba loại quả: đào tiên, quýt, cam.
Trong “Từ điển Truyện Kiều”, cụ Đào Duy Anh có dẫn câu của Tô Đông Pha (1037-1101): “Lão nhân du hý như nhi đồng/ Bất chiết mai chi nhi chiết quất chi” (Ông lão chơi đùa như trẻ con/ Không bẻ cành mai, mà bẻ cành quýt). Có thể hiểu ông lão đã già, cành mai thì cao, đẹp, quý phái, nên ông bẻ cành quýt thấp, dân giã và có quả ngon để ăn. Cụ Đào dẫn ra vậy, chắc là có ý nói: trong văn hóa Trung Hoa, quýt là cây/quả phổ biến, thông thường. Cũng là để độc giả hiểu về Mã Giám Sinh cơ hội khôn ngoan, thực dụng.
Cụ Đào còn dẫn thêm câu ca dao: “Ăn nhiều ăn ít/ Ăn bằng quả quýt cho cam lòng” như để chứng minh Nguyễn Du tiếp thu dân gian để làm giàu có thơ mình…
Như vậy, cây/quả quýt đã rất quen thuộc với văn hóa phương Đông.
Ở Trung Quốc, quả quýt đã có trong văn học từ thời Xuân Thu. Truyền thuyết kể Tề Án Anh đi sứ nước Sở. Người Sở muốn làm nhục, bày kế cho dẫn một tên tù thường phạm đi qua. Vua nước Sở hỏi: Tên ấy người nước nào? Thưa: Là người nước Tề. Vua quay sang hỏi Án Anh: Người nước Tề hay đi làm trộm cướp thế sao? Án Anh bình tĩnh đáp: Tôi nghe nói cây quýt trồng ở nam sông Hoài thì ngọt, trồng ở bắc sông Hoài thì chua. Người Tề ở trong nước thì tốt, qua nước Sở thì lại xấu. Có lẽ do thủy thổ khác nhau khiến sinh ra thế chăng? Vua Sở bí không nói được gì nữa.
Câu trả lời quá thông minh, đúng là “tương kế, tựu kế”. Một màn kịch được dựng ra nhằm nói xấu người Tề. Chẳng may gặp phải “cao thủ” vạch trần: do “thủy thổ” (môi trường xã hội) nước Sở đã biến người tốt thành kẻ “trộm cướp”. Một đòn phản công đích đáng!
Trong “Nhị thập tứ hiếu”, Quách Cư Kính kể tích “Hoài quất di thân” (Dấu quýt cho mẹ) nói về Lục Tích (188-219), tự Công Kỷ, làm quan cuối thời Đông Hán. Lúc 6 tuổi, có dịp theo cha đến tận Cửu Giang để thăm Viên Thuật. Thuật lấy quýt ra thết đãi mọi người, Tích bèn lấy trộm hai trái. Đến lúc quỳ gối lạy chào ra về, hai trái quýt bất ngờ rơi xuống. Thuật nói: “Chàng Lục là khách quý sao lại giấu quýt?”. Tích liền quỳ đáp: “Mẹ tôi rất thích quýt, tôi định mang về biếu mẹ”. Thuật khen Tích là người có hiếu.
Câu chuyện tiếp biến sang Việt Nam, tác giả Lý Văn Phức (1785-1849) diễn ca thành thể song thất lục bát. Ngày xưa ai ai cũng thuộc, coi đó là bài học về chữ Hiếu: “Hán Lục Tích thuở còn sáu tuổi/ Quận Cửu Giang đến với họ Viên/ Trẻ thơ ai chẳng yêu khen/ Quýt ngon đặt tiệc tiểu diên đãi cùng/ Cất hai quả vào trong tay áo/ Tiệc tan xong từ cáo lui chân/ Trước thềm khúm núm gởi thân/ Vô tình quả quýt nẩy lăn ra ngoài/ Viên trông thấy cười cười hỏi hỏi/ Sao khách hiền mang thói trẻ thơ/ Thưa rằng: Mẹ vốn tính ưa/ Vật ngon dành lại để đưa mẹ thì…”.
Trong tiếng Hán, âm “quýt” gần âm với “cát” (có nghĩa là may mắn). Trong tiếng Quảng Đông, âm “quýt” gần âm với “vàng”. Lại có hình dáng tròn trịa, đầy đặn, màu vàng sáng, quả quýt được người phương Đông tượng trưng cho sự viên mãn, trọn vẹn, giàu sang, phú quý, hạnh phúc và thịnh vượng.
Người Trung Quốc xưa thường tặng nhau quả quýt trong dịp đầu năm mới với mong muốn cả năm gặp nhiều may mắn, tài lộc. Sau đám cưới, cô dâu được chú rể tặng quả quýt. Sau lễ hợp cẩn, cô sẽ bóc để cả vợ chồng cùng ăn với cái ý cùng chia sẻ, hưởng thụ một cuộc sống ngọt ngào, hạnh phúc, tròn đầy. Ngày Tết, các bậc cha mẹ đặt quýt cùng với những phong bao lì xì màu đỏ đựng tiền để xua đuổi ma quỷ...
Với người Hàn Quốc, quả quýt thường gắn với sự sang trọng, được mua làm quà tặng. Trong dịp Tết Nguyên đán thường chưng quýt ở vị trí trang trọng với mong muốn một năm mới an khang, thịnh vượng. Đầu năm 2025, bộ phim “When life gives you tangerines” (Khi cuộc đời cho ta quả quýt) 16 tập, được trình chiếu đã đạt sáu triệu lượt xem trong tuần thứ hai.
Mượn hình tượng “quả quýt” để kể về một câu chuyện có bối cảnh ở đảo Jeju những năm 1950, những người dân chài đã vượt qua tất cả khó khăn bằng ý chí và khát vọng, niềm tin. Quýt là loại trái cây đặc trưng trên đảo Jeju, nên tên phim rất ý nghĩa. Lời của một nhân vật chính rất gợi nghĩ: “Nếu cuộc đời mang đến những quả quýt chua, hãy biến chúng thành mứt quýt ngọt ngào…”. Trước đó, đảo Jeju đã thu hút khách du lịch bằng cách tổ chức “tour” hái quýt, du khách trả tiền (khoảng 450.000 VNĐ) sẽ được cấp dụng cụ để tự hái quýt (trong nửa ngày).
Với người Nhật Bản, ngoài để làm thuốc, hương liệu, quýt còn thường dùng làm gia vị, làm đẹp… Truyền thuyết kể, Nhật hoàng Meirei ra lệnh cho một vị thần (Tajimamori) đi tìm loại trái cây có khả năng “cải lão hoàn đồng”. Nhưng khi có quả quý ấy, Nhật hoàng đã qua đời. Quả quý đó là trái quýt ngày nay. Người Nhật ví màu vàng của quýt như ánh mặt trời giúp xua tan những điều xấu, mang lại may mắn và niềm vui.
Ở Việt Nam, trên mâm ngũ quả cúng gia tiên ngày Tết, thường có quả quýt với ý mong muốn mọi sự thành đạt, may mắn. Phải chăng thành ngữ “Chờ đến mùa quýt” là nói “chờ đến Tết” - một khoảng thời gian rất xa, rất mong đến. Vì ngày xưa Tết là “cái mốc” rất đáng mong, để “được ăn Tết”, được nghỉ ngơi, chơi bời. Giáp Tết thì quýt chín, để ăn, để thờ. Mà “thời gian chờ đợi bao giờ cũng lâu”, nên gây sự sốt ruột…
Trong ca dao, quýt là loại trái cây gần gũi, dân dã: “Quýt rụng bờ ao ngọt ngào anh chuộng/ Trái mận hồng đào rụng cuống anh chê”. Quýt hay đi liền với cam: “Ăn bưởi lại nhớ đến bòng/ Ăn cam nhớ quýt, ăn hồng nhớ nhau”. Tên “quýt” để chỉ những người đi ở, như “con sen” (đầy tớ gái); “thằng quýt” (đầy tớ trai). Trước 1945, trong văn trào phúng Nguyễn Công Hoan vẫn có loại nhân vật đầy tớ được gọi chung là thằng quýt (trong truyện ngắn “Thằng quýt”).
Dân gian có truyện “Quýt làm Cam chịu”, kể nhân vật Quýt làm hỏng việc nhưng nhân vật Cam lại lãnh hậu quả. Câu chuyện triết lý về hiện tượng xã hội trái quy luật nhân - quả, cần được khắc phục, điều chỉnh.
Quýt là sản vật không thể thiếu trong chợ Đồng Xuân (Hà Nội): “Vui nhất là chợ Đồng Xuân/ Mùa nào thức ấy xa gần bán mua/ Cổng chợ có anh hàng dừa/ Hàng cau, hàng quýt, hàng mơ, hàng đào…”. Ca dao xứ Huế ca ngợi quýt: “Hồ Tịnh Tâm nhiều sen Bách Diệp/ Đất Hương Cần ngọt quýt thơm cam/ Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Đợi đây về với một đoàn cho vui…”.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến có bài “Ái quất”, nhiều người hiểu/dịch là “Yêu quýt”. Theo nội dung miêu tả, đó là cây quất ngày nay dùng thay quả chanh, quả nhỏ bằng đầu ngón tay cái, vị chua. Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1870) có bài “Quất chi từ” (Lời quả quýt) vịnh cây quýt xứ Huế: “Ngũ nguyệt thanh thanh, thập nguyệt hoàng/ Kỷ trùng phong vũ kỷ trùng sương/ Cam tâm phẫu tự tình nhân thủ/ Yêu thức nông gia triệt cốt hương” (Tháng năm xanh xanh, tháng mười vàng/ Trải bao mưa gió trập trùng sương/ Lòng mong được tự tay tình nhân bóc/ Để biết được mình thơm ngát tận xương).
Nhờ chịu đựng gió sương mà quả quýt có màu vàng tươi, thơm mùi hương, quan trọng hơn, nhờ tay người chăm sóc. Không dùng đến chữ “quýt” mà người đọc vẫn thấy quả quýt hiển hiện. Phải chăng là một ẩn dụ: người tài phải rèn luyện qua gió sương gian nan và có người yêu thương chăm sóc!?
Trong văn học hiện đại, nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng có bài thơ “Cái con chìa vôi” với âm thanh rộn ràng, vui vẻ của tiếng chim trong không gian vườn quê thật thanh bình, êm đềm: “Cái con chìa vôi/ Đậu trên cành mít/ Nó kêu ríu rít/ Mít đã chín rồi/ Cái con chìa vôi/ Đậu trên cành quýt/ Nó kêu tíu tít/ Quýt vàng quýt ơi/ Cái con chìa vôi…”. Mỗi tiếng chim kêu là mở ra một khoảng không gian của cây trái, tạo ra cặp âm thanh -hình ảnh thật đáng yêu.
