Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập

20:46 07/12/2021

Ngày 30-11 là Ngày Độc lập của đảo quốc Barbados trong vùng biển Caribe. Năm nay là kỷ niệm 55 năm độc lập của đảo quốc này. Nhưng năm nay đặc biệt hơn bởi lễ kỷ niệm Ngày Độc lập còn đánh dấu lịch sử sang trang mới: Babardos trở thành một nước cộng hòa, với nguyên thủ quốc gia là Tổng thống mới được bầu thay thế vị trí của Nữ hoàng Anh.

Lịch sử hòn đảo mang tên “Barbados”

Đảo quốc Barbados nhỏ bé nằm ngoài rìa phía Đông vùng biển Caribe. Thời kỳ lịch sử xa xưa, đây là vùng đất hoang sơ và là nơi cư trú của dân bản địa Siboney có gốc gác từ Florida (thuộc Mỹ ngày nay). Ít lâu sau, người Arawak từ Nam Mỹ đến chiếm đóng hòn đảo và thay thế người Siboney. Người Arawak vốn giỏi nghề nông và dệt vải.

Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập -0
Tổng thống đầu tiên Sandra Mason

Đồng thời họ cũng là những chiến binh cừ khôi chống chọi tốt với những cuộc xâm lăng của các tộc người Caribe khác. Đó là giai đoạn từ thập niên 1490 trở về trước. Đến đầu thập niên 1500, các thủy thủ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã tìm thấy hòn đảo. Thế là hòn đảo bị thực dân Tây Ban Nha đến từ Hispaniola xâm chiếm vào năm 1518.

Người Tây Ban Nha không định cư ở đây bởi vì dường như hòn đảo không có tài nguyên khoáng sản. Đến năm 1536, hòn đảo này bị bỏ hoang, vì những người nô lệ đã bỏ đi hết, ngay cả những cư dân còn lại cũng bỏ trốn.

Gần 100 năm sau, đến khoảng năm 1625, Vua James I của nước Anh đã tuyên bố chiếm hữu hòn đảo. Năm 1627, những người Anh nhập cư bắt đầu định cư ở Barbados và Vua Charles I đã cấp “bản quyền” Barbados cho Lord Carlisle. Sau năm 1660, “bản quyền” này đã được giao nộp lại cho Vương triều và 4,5% thuế xuất khẩu được áp dụng lên hàng hóa của hòn đảo cho đến năm 1838. Từ năm 1627 đến năm 1640, thực dân Anh bắt đầu kéo đến định cư ở Barbados và mang theo lao động thuê mướn từ Anh và một số người châu Phi bị bắt làm nô lệ để sản xuất thuốc lá, sợi bông và bột chàm.

Sự ra đời của ngành mía đường vào những năm 1650 đã dẫn đến sự phát triển của các đồn điền lớn, và đến năm 1685, dân số tại hòn đảo Barbados đã tăng lên khoảng 50.000 người, chủ yếu là nô lệ châu Phi. Cũng cần nói thêm rằng, trong nhiều thế kỷ qua, đường đã trở thành thứ sản vật dành cho những người cực kỳ giàu có của Châu Âu. Ngành mía đường đã phát triển mạnh mẽ trên vùng đất trù phú của Barbados. Địa hình bằng phẳng của hòn đảo đã tạo không gian rộng lớn để phát triển các đồn điền trồng mía.

Vào cuối thế kỷ 18, Barbados có 745 đồn điền do hơn 80.000 nô lệ châu Phi và con cháu họ làm việc. Chính mô hình sử dụng nô lệ châu Phi làm việc trên các cánh đồng mía rộng lớn đã khởi đầu một “cuộc cách mạng về đường” khiến nước Anh trở nên giàu lên một cách phi thường và tạo ra một mô hình sản xuất mới lan rộng khắp châu Mỹ.

Nhưng những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em làm việc trên các cánh đồng mía của Barbados phải chịu sự tàn bạo không thể tưởng tượng được. Điều kiện làm việc khắc nghiệt, sự đối xử tàn bạo đó đã dẫn đến các cuộc nổi dậy của nô lệ vào năm 1702 và 1816. Từ đó, chế độ nô lệ bị bãi bỏ trên khắp Đế quốc Anh vào năm 1833–1834.

Con đường đi đến độc lập

Các thiết chế chính trị cũng bắt đầu hình thành ngay từ khi người Anh đặt chân đến Barbados. Văn phòng Toàn quyền và một Hội đồng được thành lập vào năm 1627, và một Viện Quốc hội được thành lập vào năm 1639, nhưng do điều kiện về quyền sở hữu tài sản nên cơ quan này phải chịu sự chi phối của các chủ sở hữu đồn điền.

Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập -0
Thái tử Charles thay mặt Hoàng gia Anh đến dự và chúc mừng

Một Ủy ban điều hành được thành lập vào năm 1881, với các chức năng tương tự như chính phủ ngày nay. Nhượng quyền thương mại được mở rộng vào năm 1944 và các đảng phái chính trị khác bắt đầu ra đời vào năm 1946. Tiếp theo là sự xác lập quyền bầu cử phổ thông dành cho người lớn vào năm 1951, hệ thống bộ trưởng đầy đủ vào năm 1954 và chính phủ có nội các hoạt động vào năm 1958.

Đảng Lao động Barbados (BLP), phát triển từ các tổ chức công đoàn, được thành lập dưới sự lãnh đạo của Grantley Adams (sau năm 1958 chuyển giao cho tiến sĩ Hugh Cummins) và hoạt động vì mục tiêu cải thiện kinh tế và mở rộng các quyền chính trị của công nhân. BLP đã giành được đa số trong Hạ viện từ năm 1944 đến năm 1961. Năm 1955, sự chia rẽ trong BLP dẫn đến sự ra đời của Đảng Lao động Dân chủ (DLP) do Errol Barrow lãnh đạo. Ông Barrow đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1962. Như vậy, đến năm 1958, Barbados đã có chính quyền tự trị “ảo” và một hệ thống dân chủ, được chính thức công nhận vào năm 1961. Các thành viên được đề cử và nội các chính phủ không còn được ngồi trong Ủy ban điều hành, và Toàn quyền buộc phải chấp nhận các quyết định của Ủy ban này.

Barbados từng là thành viên của Liên bang West Indies, được thành lập vào năm 1958. Khi Liên bang bị giải thể vào năm 1962, chính phủ Barbados tuyên bố ý định giành độc lập của riêng mình. Năm 1964, Ủy ban điều hành bị bãi bỏ và nhiệm vụ điều hành đất nước được chuyển giao cho nội các. Hội đồng Lập pháp được thay thế bằng Thượng viện. Hội nghị Lập hiến Barbados được triệu tập vào tháng 6-1966 và có sự tham dự của đại diện của cả ba đảng trong Cơ quan lập pháp Barbados, tất cả đều nhất trí về mục tiêu giành độc lập riêng. Tất cả các bên tại Hội nghị đều nhất trí mong muốn Barbados được chấp nhận là thành viên của Khối thịnh vượng chung và đồng ý rằng quyền hành pháp của Barbados nên được trao cho Nữ hoàng và được Toàn quyền thay mặt thực hiện. Ngày Độc lập được ấn định vào ngày 30-11-1966.

Theo lời cố vấn của Thủ hiến Barrow, cơ quan lập pháp cũ đã bị giải thể vào ngày 10-10-1966, khoảng hai tháng trước khi hết hạn theo luật định và cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày 3-11-1966. Không giống như các cuộc bầu cử trước sử dụng các khu vực bầu cử một thành viên, cuộc bầu cử này được tranh luận bằng cách sử dụng các khu vực bầu cử hai thành viên, trong đó mỗi cử tri có hai phiếu bầu. Kết quả là Đảng Lao động Dân chủ (DLP) giành chiến thắng, giành được 14 trong số 24 ghế. BLP giành được tám ghế và đảng Quốc gia Barbados giành được hai ghế.

Barbados giành độc lập, thoát khỏi chế độ thuộc địa Anh vào năm 1966. Việc này được ấn định bởi Đạo luật Barbados Độc lập 1966 được thông qua ở Hạ viện Anh vào ngày 15-11, có hiệu lực từ ngày 30-11-1966. Vào lúc nửa đêm 29 rạng sáng ngày 30-11-1966, Barbados đã trở thành một quốc gia có chủ quyền độc lập trong Khối thịnh vượng chung, chấm dứt 361 năm cai trị của Anh. Barbados là nước phụ thuộc thứ tư của Anh ở Caribe giành độc lập, sau Jamaica (1962), Trinidad and Tobago (1962), và Guyana (1966). Errol Barrow trở thành Thủ tướng đầu tiên và Sir John Stow là Tổng đốc đầu tiên.

Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập -0
Nữ hoàng Anh Elizabeth II đến thăm Barbados nhân dịp nước này trở thành quốc gia độc lập ngày 30-11-1966

Sau khi giành được độc lập, Barbados chính thức thông qua hệ thống chính phủ nghị viện Westminster, với một Toàn quyền đại diện cho Vương triều Anh. Các quyền và đặc quyền mà đế quốc Anh dành cho Toàn quyền vào năm 1652 được sử dụng làm nền tảng cho Hiến pháp năm 1966, quy định hệ thống nghị viện lưỡng viện do Thủ tướng đứng đầu và một nội các.

Theo hiến pháp, Nghị viện bao gồm Quốc vương Anh do Toàn quyền làm người đại diện, Thượng viện và Hạ viện. Toàn quyền do Quốc vương bổ nhiệm và phục vụ theo ý muốn của quốc vương. Quyền hành pháp ở Barbados thuộc về Toàn quyền, Thủ tướng và một nội các gồm ít nhất năm bộ trưởng. Hiến pháp quy định một Hạ viện được bầu và Thượng viện được chỉ định.

Nước Mỹ ngay lập tức công nhận nền độc lập của Barbados và mở Đại sứ quán Mỹ tại thủ đô Bridgetown vào Ngày Độc lập năm 1966. Barbados gia nhập Liên Hợp Quốc vào tháng 12-1966; gia nhập Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) năm 1967. Ngày 4-7-1973, Barbados cùng với một số quốc gia khác trong vùng như Trinidad and Tobago, Guyana và Jamaica đã ký Hiệp ước Chaguaramas ở Trinidad thành lập Cộng đồng và Thị trường chung Caribe (CARICOM).

Trang sử mới và cơ hội, thách thức

Vào đúng Ngày Độc lập 30-11-2021, Quý bà Sandra Mason – Toàn quyền cuối cùng của Barbados thuộc Anh, đã trở thành Tổng thống thể chế cộng hòa đầu tiên trong lịch sử đảo quốc Barbados sau lễ tuyên thệ nhậm chức được tổ chức long trọng tại thủ đô Bridgetown. Một sự kiện mang nhiều ý nghĩa, với sự có mặt của Thái tử Charles đại diện cho Hoàng gia Anh. Thái tử Charles đã thay mặt Nữ hoàng Anh Elizabeth II chuyển thư chúc mừng đến Tổng thống Mason và người dân Barbados.

Barbados trở thành một quốc gia cộng hòa độc lập, không còn vai trò nguyên thủ quốc gia của Nữ hoàng Anh, có nghĩa là Vương quốc Anh không còn kiểm soát các công việc của nước này nữa. Bây giờ đó là trách nhiệm của Tổng thống mới được bầu Sandra Mason và chính phủ của bà. Nhưng không giống các quốc gia khác khi từ bỏ vai trò nguyên thủ của Nữ hoàng đồng thời rút khỏi khối Thịnh vượng chung, Barbados vẫn duy trì là thành viên khối Thịnh vượng chung. Barbados đã chọn lựa cách “chia tay” nhẹ nhàng và từ tốn, chia tay nhưng không chấm dứt hẳn để tránh “cú sốc”. Nhưng việc duy trì thành viên khối Thịnh vượng chung sẽ tạo ra một kiểu mối quan hệ rất đặc biệt và cũng vô cùng phức tạp giữa hai nước.

Là một quốc gia độc lập cũng có nghĩa là Barbados phải xây dựng hiến pháp, biểu tượng, biểu trưng, quân đội và hộ chiếu. Là một quốc gia độc lập, Barbados sẽ phải chỉ định các đại sứ ở nước ngoài. Họ sẽ là những người thay mặt Barbados ký các hiệp ước và trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế khác nhau. Điều này rất quan trọng, vì nó mang lại cho quốc gia quyền bình đẳng trong các vấn đề khác nhau liên quan đến thương mại quốc tế, các chính sách và hiệp ước. Cơ hội phát triển đất nước đang rộng mở trước mắt cho người Barbados và họ chắc chắn sẽ đón nhận một cách nồng nhiệt nhất.

Nhưng bên cạnh cơ hội phát triển, những thách thức dành cho một quốc gia độc lập cũng không hề ít. Thách thức lớn nhất hiện nay chính là đại dịch COVID-19 đang hoành hành trên phạm vi toàn cầu. Một nền kinh tế non trẻ, chập chững bước đi những bước độc lập đầu tiên trong bối cảnh đại dịch toàn cầu, khó tránh khỏi những vấn đề khó khăn.

Trong đó ngành du lịch là kinh tế chủ lực của Barbados, quanh năm tiếp đón hàng triệu du khách “đói nắng” chủ yếu đến từ Anh và châu Âu đang chững lại do đại dịch. Làm sao khôi phục đà tăng trưởng của ngành du lịch trong điều kiện dịch bệnh COVID-19 sẽ là bài toán nan giải đầu tiên mà Tổng thống đầu tiên Sandra Mason sẽ phải tìm lời giải cho tốt.

An Châu (Tổng hợp)
.
.
.