Nhớ chú Dìn
Đau đớn vì mất vợ con, nhà cửa chú Dìn phát điên, phát dại khá lâu mới trấn tĩnh được. Chẳng đủ sức phát nương, làm rẫy, chú Dìn đành phải lê cái thân tàn của mình đi khắp nơi ngửa tay ăn xin. Hàng năm vào dịp tết chú thường đi “Khai wài xuân” những mong đem may mắn cho mọi người.
Là ngày chủ nhật không phải đi học nên hôm nay tôi ngủ muộn. Khi tôi vùng dậy khỏi giường thì thấy mẹ đang lúi húi xếp từng cái bánh cuốn vào cái làn trúc ở dưới bếp. Không biết mẹ tôi dậy từ khi nào mà tráng được nhiều bánh cuốn đến vậy. Thông thường mẹ làm bánh cuốn chỉ để cả nhà ăn chứ không đem bán. Hôm nay mẹ lại xếp bánh vào làn làm gì vậy nhỉ? Tôi băn khoăn tự hỏi. Tôi vội chạy đến bên mẹ.
- Mẹ ơi! Mẹ xếp bánh vào làn làm gì vậy? - Tôi hỏi.
Mẹ âu yếm xoa đầu tôi. Mẹ không trả lời câu hỏi của tôi. Mẹ bảo:
- Ồ! Con trai mẹ dậy rồi à? Nhanh chóng đánh răng, rửa mặt, ăn sáng xong đi cùng mẹ. Bánh mẹ để trong chạn. Nước canh trong nồi trên bếp.
Nói xong mẹ lại lúi húi vào công việc. Chưa hết thắc mắc, tôi chỉ tay vào làn bánh và hỏi mẹ:
- Làn bánh này đem đi bán phải không mẹ?
- Xưa nay có bao giờ mẹ làm bánh bán đâu! Tí nữa mẹ con mình đi thăm chú Dìn. Khổ gần tết rồi mới lăn ra ốm! - Mẹ tôi thở dài.
Tục lệ quê tôi, đi thăm người thân chẳng may bị ốm hay đem theo quà. Quà có thể là vài cái bánh cuốn hoặc mấy cái bánh tẻ tự chế biến chứ không mua ngoài chợ. Chú Dìn không có họ hàng với nhà tôi nhưng thân thích hơn cả người nhà.
Những năm giữa thế kỷ trước, cha tôi đi tiễu phỉ. Một lần bị bọn phỉ tập kích bất ngờ, cha tôi bị thương vào chân. Cha tôi bò lết đến cái lều canh nương của chú Dìn thì ngất lịm không hay biết gì nữa. Vốn căm thù bọn phỉ vì chúng thường xuyên cướp bóc của cải dân lành, cưỡng hiếp phụ nữ, bởi thế khi thấy cha tôi thở thoi thóp trong lều, chú Dìn vô cùng thương cảm và tận tình chăm sóc cha tôi.
Chú tìm lá thuốc băng bó vết thương và hàng ngày nấu cháo rồi nhẫn nại bón từng thìa cho cha tôi. Dần dần sức khỏe cha tôi hồi phục và tìm về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Sau khi chiến dịch tiễu phỉ kết thúc, cha tôi quay lại tìm chú Dìn thì không thấy nữa. Nền nhà chỉ còn đống tro tàn. Nhà chú Dìn ở lẻ loi trên mỏm đồi cao, cha tôi hỏi mọi người trong vùng không ai biết chuyện gì đã xảy ra với chú Dìn.
Không gặp được ân nhân nhưng hình ảnh chú Dìn lúc nào cũng canh cánh trong lòng cha tôi. Tiễu xong bọn phỉ, cha tôi giải ngũ trở về địa phương làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Những lúc rỗi rãi, cha lại kể cho tôi nghe những gian nan nguy hiểm mà cha đã nếm trải trong thời gian thực hiện nhiệm vụ tiễu phỉ. Trong câu chuyện bao giờ cha cũng nhắc tới chú Dìn.
- Chú Dìn chắc là người tốt lắm cha nhỉ? - Có lần tôi hỏi cha.
- Chú ấy tốt lắm con ạ. Nếu không tốt thì chú ấy đã nộp cha cho bọn phỉ để lĩnh thưởng rồi.
- Tìm được chú Dìn thì cha đón chú ấy về nhà ta chơi, cha nhé - Tôi dặn cha.
- Nhất định rồi con ạ. Trước khi chia tay, cha và chú ấy đã thề với trời đất hai người mãi mãi là anh em tốt của nhau rồi. Cha tôi nói.
Tuy chưa bao giờ gặp chú Dìn nhưng qua lời kể của cha, tôi hình dung chú Dìn có đôi mắt luôn mở to và ánh mắt thật hiền. Chú ấy ít nói, một khi đã mở miệng thì nói lời của hoa thơm, lời của suối reo, lời của mật ngọt. Tóm lại tất cả những điều tốt đẹp trên đời này tôi đều dành cả cho chú Dìn yêu quí.
Năm tôi mười tuổi, vào dịp tết bản tôi có chuyện lạ. Hôm ấy là ngày mồng hai tết, sáng sớm, từ đầu bản một lũ trẻ con tầm tuổi tôi theo sau một ông già gầy gò, mặt đầy sẹo. Ông mặc bộ quần áo chàm đã cũ, miếng vá nọ đè lên miếng vá kia, trông thật thương tâm. Lũ trẻ con kéo theo sau vừa đi vừa hò hét:
- Hoan hô ông già “ Khai wài xuân” đến chúc tết bản ta.
Nghe tiếng lũ bạn, tôi vội chạy ra khỏi nhà nhập bọn. Ông già "Khai wài xuân” rảo bước vào ngõ nhà tôi. Ông đứng trước cửa nhà miệng xướng lên những câu có vần, có điệu:
Tháng giêng năm mới
Chúc con trẻ mập như búp đa
Chúc người già lên cầu thang không vịn
Đi nương không cầm gậy
Chúc đàn bò đầy chuồng trước, chuồng sau.
Chúc xong ông dán tờ giấy đỏ cắt hình con trâu mộng vào cánh cửa. Mẹ tôi từ trong nhà đi ra, tay cầm cái bánh chưng đưa cho ông. Ông cúi đầu cảm ơn và đút chiếc bánh vào cái túi nải đeo bên sườn. Khi ông toan bước đi thì cha tôi chạy đến đứng sững trước mặt ông. Cha tôi nhìn kỹ ông từ đầu đến chân rồi đột ngột hét lên:
- Trời ơi! Chú Dìn phải không? Sao lại đến nông nỗi này? Bao nhiêu năm nay tôi đi tìm chú.
Rồi cha nói với mẹ:
- Mẹ thằng Dũng ơi! Tôi đã gặp được ân nhân rồi đây này.
Mẹ tôi từ trong nhà chạy ra, hai tay còn dính đầy bột bánh khảo. Vì lúc ấy mẹ đang vò dở mẻ bánh khảo. Đứng trước mặt chú Dìn, giọng mẹ đầy xúc động:
- Chào chú Dìn! Nghe bố thằng Dũng kể nhiều về chú, tôi ước ao được gặp chú. Thế là hôm nay được toại nguyện rồi.
Ông già "Khai wài xuân” nhìn cha tôi không chớp mắt. Một lúc sau ông cất giọng trầm đục:
- Anh Quân phải không?
- Phải! Tôi đây! - Cha tôi xúc động trả lời.
Hai người ôm chầm lấy nhau. Mắt cha tôi và chú Dìn nhòa lệ. Lũ bạn tôi ngơ ngác nhìn hai người không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tôi thì không đến nỗi ngạc nhiên như lũ bạn vì tôi đã phần nào biết chú Dìn qua câu chuyện mà cha thường kể. Tuy nhiên tôi hơi thất vọng vì dung mạo của chú khác rất nhiều trong trí tưởng tượng của tôi.
Cha tôi mời chú Dìn vào nhà. Cha bảo mẹ đun nước để chú tắm. Cha tôi lục tủ lấy bộ quần áo mới cho chú mặc. Sau khi tắm rửa xong, cha cùng chú Dìn nhâm nhi chén rượu. Lúc này chú Dìn kể cho cha tôi về cuộc đời của chú.
Chú kể rằng, sau khi cha đi rồi, bọn phỉ điều tra biết chú cứu bộ đội, bọn chúng liền tìm cách trả thù. Vào một đêm đông, cả nhà đang say giấc, bọn phỉ bất ngờ mò đến châm lửa đốt nhà chú. Nhà chú lập bằng cỏ tranh, mùa hanh khô chỉ cần mồi lửa là thiêu rụi. Vợ và hai con bị chết thiêu. Chú Dìn bị bỏng nặng, may mắn được bộ đội chạy chữa nên thoát chết.
Đau đớn vì mất vợ con, nhà cửa chú Dìn phát điên, phát dại khá lâu mới trấn tĩnh được. Chẳng đủ sức phát nương, làm rẫy, chú Dìn đành phải lê cái thân tàn của mình đi khắp nơi ngửa tay ăn xin. Hàng năm vào dịp tết chú thường đi “Khai wài xuân” những mong đem may mắn cho mọi người. Chú làm việc này chỉ đổi lấy cái bánh chưng hoặc phong bánh khảo chứ không lấy tiền. Thật vui mừng xuân này chú tình cờ gặp được anh bộ đội Quân năm xưa trên đường tiễu phỉ bị thương đã được chú tận tình cứu chữa.
Nghe xong chuyện đời chú Dìn, cha mẹ tôi vô cùng cảm động và giữ chú ở lại ăn Tết cùng gia đình. Xong cái tết, cha tôi không cho chú đi đâu cả mà bảo chú ở lại làm thành viên của gia đình. Chú ở cùng gia đình tôi được vài năm thì hợp tác xã đắp xong cái đập chắn nước vừa để tưới tiêu vừa để thả cá. Chú Dìn xin cha tôi được ra đấy để trông nom hồ nước.
Cha tôi đắn đo mãi mới đem việc này ra bàn với Ban quản trị hợp tác xã. Ban quản trị nhất trí và huy động xã viên góp công dựng cái nhà gỗ ven hồ cho chú ở. Chú được tính công điểm và chia thóc như là một xã viên. Cuộc sống ổn định. Hàng năm vào dịp tết chú vẫn thường xuyên đi "Khai wài xuân” cho từng nhà trong hợp tác xã. Thành thói quen, hễ đến tết ai cũng mong được chú Dìn đến chúc những lời tốt đẹp.
Cái hồ nước nằm trong thung lũng nhỏ cách nhà tôi vài ba cây số. Hai mẹ con đi bộ một lúc đã tới nơi. Chú nằm đắp chăn trên giường, bếp không có ngọn lửa, không cục than hồng khiến căn nhà càng thêm lạnh lẽo.
Mẹ tôi hỏi thăm chú rồi nhóm lửa nấu lại bát canh cho nóng. Mẹ động viên chú Dìn cố ăn cho chóng khỏi bệnh. Nhìn ánh mắt dài dại cùng giọng nói run run của chú, tôi nghĩ tết này chắc chú không thể đi chúc tết như mọi năm được nữa. Chao ôi! Tết mà thiếu bài ca “Khai wài xuân” của chú Dìn thì mất đi nhiều ý nghĩa. Tôi buồn rầu nghĩ trong lòng. Thật bất ngờ, sắp đến tết chú Dìn khỏi bệnh.
Ngày cuối năm mẹ bận rộn trong bếp, bố thì quét dọn bàn thờ. Bố bảo tôi đi đón chú Dìn về ăn bữa cơm tất niên. Đến nơi tôi thấy chú Dìn đang mải mê cắt những con vật xuân bằng giấy xanh đỏ. Tôi mừng lắm. Tết này tôi cùng lũ trẻ trong bản lại được dịp bám theo chú hò reo sung sướng.
Trong bữa cơm, sau khi cha tôi cùng chú Dìn cạn vài chén rượu, cha tôi nhìn chú Dìn rồi nói:
- Chú Dìn này! Tết này chú không đi “Khai Vài Xuân” nữa nhé.
- Sao vậy anh? - chú Dìn nhìn bố tôi ngơ ngác.
- Chả là thế này! Có người phản ánh với tôi rằng, hiện giờ chú đã có công việc ổn định rồi. Tết không đi lang thang ăn xin nữa. Làm như thế mang tiếng lắm.
- Thưa anh! Đây đâu phải chuyện ăn xin, mà là tục lệ truyền đời mà.
- Biết vậy nhưng có phải ai cũng hiểu đâu! Tốt nhất chú đừng đi lang thang khắp chốn “Khai wài xuân” là ổn. Chú hãy nghe lời tôi.
- Dạ! Em nghe anh! - Giọng chú Dìn buồn rười rượi.
Từ lúc đó trở đi không ai nói với ai nữa. Không khí bữa cơm trở nên nặng nề, ảm đạm. Không như mọi khi xong bữa chú Dìn thường ở lại nói vài câu chuyện vui với bố tôi rồi mới ra về. Nhưng lần này chú lẳng lặng ra đi, mắt chú ngân ngấn lệ. Sở dĩ bố tôi nói như thế với chú Dìn vì trong cuộc họp Ban quản trị hợp tác xã có người lên tiếng phản đối việc địa phương xuất hiện chú Dìn núp dưới danh nghĩa “Khai wài xuân” để ăn xin làm xấu và bôi bác cuộc sống tốt đẹp của dân làng. Bố tôi ra sức bảo vệ nhưng không được.
Sáng mồng một Tết, gần trưa không thấy chú Dìn đến ăn cơm, sốt ruột, bố sai tôi ra hồ cá đón chú. Tôi đến nơi căn nhà vắng tanh vắng ngắt. Tôi cất tiếng gọi nhưng không thấy chú trả lời. Cả thung lũng lặng phắc.Tôi buồn bã quay về.
Năm đó không có chú Dìn “Khai wài xuân”, cả bản ai cũng nhớ, nhất là lũ trẻ cứ nhìn nhau ngơ ngác. Trong lòng đứa nào cũng mong chú xuất hiện cùng với bài ca “Khai wài xuân” quen thuộc.
Bây giờ kể lại chuyện này thì chú Dìn đã lên trên trời xa lắm, cha mẹ tôi cũng đã quy tiên ở tuổi tám mươi. Tôi cũng đã thành người già. Mỗi năm tết đến xuân về, lòng tôi lại bồi hồi nhớ chú Dìn và bài ca “Khai wài xuân” của chú. Những con trâu, con lợn, con bò được chú cắt bằng giấy xanh đỏ lại lộc cộc từ ngày cũ hiện về.
