Xây dựng lực lượng vũ trang

Thứ Hai, 09/06/2014, 12:09
Lực lượng vũ trang nhân dân là các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý. Lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ chiến đấu, giành và giữ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; đồng thời, là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân, cùng toàn dân xây dựng đất nước.

Kế thừa Hiến pháp 1992 về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Hiến pháp 2013 lần này đã thể hiện một cách đúng đắn tình hình thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hơn 27 năm qua và những năm tới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đặc biệt là những nội dung cơ bản liên quan đến quy định về trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tình hình mới. Cụ thể như sau:

1. Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước (Điều 65 Hiến pháp 2013)

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là một trong những yếu tố cấu thành của tổ chức quyền lực nhà nước, có vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ chính thể, quyền lực nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Sinh ra và lớn lên trong phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng vũ trang của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Trong quá trình xây dựng, trưởng thành, dù đóng quân ở đâu, đi đến đâu, trong điều kiện chiến tranh cũng như trong lao động hòa bình, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng trung thành với nhân dân, với Tổ quốc, bảo vệ nhân dân trước mọi địch họa, thiên tai, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân giúp đỡ, thương yêu, đùm bọc, che chở. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, thực sự trở thành lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tin cậy, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và nhân dân, với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa luôn luôn là nguyên tắc cơ bản của công tác xây dựng lực lượng vũ trang nói chung.

Cùng với đó, phải thường xuyên giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Xa rời nguyên tắc đó, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sẽ mất sức chiến đấu, không còn là lực lượng vũ trang cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động vì bản chất cách mạng, tính chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam được quy định bởi chính thực tiễn vận động của cách mạng Việt Nam, phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam. 

2. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân theo hướng cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (Điều 66, 67 Hiến pháp 2013)

Xây dựng Quân đội, Công an cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là vấn đề cơ bản hàng đầu của Đảng ta trong mọi giai đoạn cách mạng. Xây dựng Quân đội, Công an cách mạng chính quy là thực hiện thống nhất về mọi mặt (tổ chức, biên chế, trang bị), nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu tổng hợp của lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Lực lượng vũ trang nhân dân phải được xây dựng toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức, có khả năng phân tích và kết luận chính xác, sử dụng thông thạo các loại trang bị vũ khí hiện đại, giỏi các cách đánh, vận dụng mưu trí sáng tạo các hình thức chiến thuật…

Đồng thời, đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ phải từng bước hiện đại hóa Quân đội nhân dân, Công an nhân dân về trang bị, binh khí kỹ thuật, bởi hiện đại hóa đối với lực lượng vũ trang là một tất yếu và là một yêu cầu mang tính khách quan nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội và Công an nhân dân. Quá trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang nhân dân phải gắn liền với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, với từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng, sản xuất mới kết hợp phục hồi sửa chữa, cải tiến vũ khí trang bị hiện có và mua một số vũ khí, phương tiện chiến đấu kỹ thuật cao cần thiết.

3. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương, quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc (Điều 68 Hiến pháp 2013)

Hiến pháp 2013 quy định rõ về trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng công nghiệp an ninh, công nghiệp quốc phòng theo hướng công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh trở thành một bộ phận của công nghiệp quốc gia, phát triển công nghiệp lưỡng dụng, nâng cao khả năng tự bảo đảm của công nghiệp quốc phòng, an ninh và tập trung đầu tư vào những lĩnh vực đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh mà công nghiệp dân sinh không có khả năng bảo đảm, tránh đầu tư dàn trải. Việc gắn kết các yếu tố này trong Hiến pháp thể hiện việc nắm vững quy luật và quan điểm của Đảng là muốn phát triển kinh tế - xã hội thì phải có môi trường hòa bình, ổn định và ngược lại, việc phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo điều kiện để nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh cho đất nước.

Bên cạnh việc kế thừa quy định về chính sách ưu tiên đối với những người phục vụ trong Quân đội và Công an, Hiến pháp quy định rõ hơn yêu cầu các chính sách này phải phù hợp với đặc thù của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Điều đó đã thể hiện rõ sự quan tâm và chính sách đãi ngộ của Đảng, Nhà nước đối với hai lực lượng này, đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng những chính sách, chế độ phù hợp với đặc thù, môi trường công tác trong hai lực lượng này, phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước, từng bước khắc phục nhiều quy định của pháp luật thiếu tính khả thi, góp phần thu hút nguồn nhân lực vào phục vụ trong Quân đội và Công an

Ths. Nguyễn Thu Hiền
.
.
.