Bốn đoản khúc về “Bể người thăm thẳm”, tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, NXB Hội Nhà văn, 2025

Phận liễu xưa nay...

Thứ Tư, 29/04/2026, 08:18

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Đời là bể khổ, tình là dây oan “ (“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)

Được xem là cây bút nữ thế hệ 7X-8X có duyên viết truyện ngắn cùng với Như Bình, Nguyễn Phương Liên, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Di Li, Tống Ngọc Hân, Vũ Thanh Lịch, Nguyễn Hương Duyên, Vũ Thị Huyền Trang, Tống Phú Sa, Mai Phương, Nguyễn Thị Hồng Chính, Trần Quỳnh Nga, Trần Thị Tú Ngọc, Chu Thị Minh Huệ, Nguyệt Chu, Phạm Thị Duyên, Nguyễn Thị Kim Hòa, Trác Diễm, Nguyễn Hồng, Lưu Thị Mười...

Một cây bút truyện ngắn viết trầm tĩnh, nắn nót và sâu lắng, phải nhận xét như thế mới thỏa đáng về tác giả này, qua ba tập truyện xinh xắn khiêm tốn trình làng văn “Bến mê” (2007), “Đắng ngọt đàn bà” (2020), “Bể người thăm thẳm” (2025); với chừng khoảng hơn 30 truyện ngắn cả thảy, chia đều cho 18 năm cặm cụi bút mực, trung bình mỗi năm viết 2 truyện.

Phận liễu xưa nay... -1
Nhà văn Nguyễn Thị Lê Na phát biểu tại Đại hội Đại biểu Hội VHNT tỉnh Quảng Trị.

Nói một cách hình tượng thì, Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

Phận liễu trong những nghịch cảnh cuộc đời

Tôi hình dung, nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na giống như những người dám chấp nhận đi ngược chiều gió với tâm thế “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên” (“Con thuyền” – Lermontov). Có vẻ như đó là một cách thức  mà tác giả bày đặt ra những nghịch cảnh cuộc đời để nhân vật nữ có cơ hội bộc lộ tính cách, bản lĩnh theo tinh thần dấn thân và lựa chọn đầy tính chất cộng sinh - chúng sinh - hiện sinh. Lại nữa, tác giả đã giăng mắc sẵn những cạm bẫy đôi khi có cái vẻ bề ngoài bọc đường ngọt ngào, nhưng bên trong là những mũi tên sắc bén có thể gây sát thương cao.

Một phụ nữ tin rằng rời bỏ quê hương bản quán sang trời Tây là đến được miền đất hứa, chạm được vào hạnh phúc và bình yên. Nhưng thực tế thì, nào chẳng thấy đâu hứa với hẹn, chỉ rặt đau đớn, ê chề, đói khổ rã rời như cô Miên đã trải qua hãi hùng, bầm dập, suýt mất mạng (“Em đừng đi”).

Cảnh ngộ này tương tự như những con mồi mà đa số là những nam thanh nữ tú mới đây bị săn bẫy vào giấc mơ việc làm nhẹ lương cao ở bên kia biên giới xa xôi và đầy phản trắc khiến thân bại danh liệt. Có thể họ bị hoàn cảnh xô đẩy, cũng có thể do tính phiêu lưu mạo hiểm, bởi ham thanh chuộng lạ mà một người nữ vốn chân yếu tay mềm cố dấn thân, bạo bước vào chốn mông lung như cô Quyên (“Bể người thăm thẳm”).

Dẫu biết “Đời là bể khổ/ Tình là dây oan” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du). Cái quy luật khắc nghiệt đó quàng vào cổ ai thì thành số phận của người đó, nhất là người nữ. Nhưng đọc kĩ, lại nhận ra trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na, nhân vật nữ có cái mầm mống của sự nổi loạn bản năng phái tính. Dường như không ít trong số họ có cái tâm thế bất như ý, bất phùng thời, bất tuân những vòng kim cô kiểu tam tòng tứ đức, hay công dung ngôn hạnh.

Nói cách khác là sự thôi thúc, kích hoạt của những nguyện vọng về nữ quyền, về sự khai phóng bản thể, kể cả thân xác, sự tự do lựa chọn và dấn thân như những liều doping kích hoạt họ cả về thể xác, cả về tinh thần. Có vẻ như họ - những người nữ - không cam chịu trở nên mờ nhạt hay bị tẩy trắng giữa cuộc đời trần thế (cõi ta bà). Có vẻ như họ là những nhân vật của văn học “bước qua lời nguyền”, hay văn học “hồi sinh bản thể”.

Tác giả không cổ súy, đề cao họ nhưng cũng không bày đặt phê phán, chỉ tái hiện những cảnh ngộ, tâm trạng, số phận như nó vốn có. Tuy nhiên, ngấm ngầm sau những câu chữ có vẻ không cần nương tay khi viết là những tiếng thở dài khẽ khàng phập phồng trong lo âu, chia sẻ và đồng cảm kín đáo.

Có vẻ như cố tình đẩy nhân vật nữ ra giữa dòng thác đời thăm thẳm nhưng khi nhân vật nữ có nguy cơ chìm nghỉm thì tác giả lại có vẻ vô tình ném phao cứu hộ như trường hợp cô Thy – một người cố gắng gìn giữ tín niệm sống sau khi mãn tang chồng (“Giữa dòng thác”). Sự ra đi là một lựa chọn của nhân vật nữ cũng bởi có đồng minh đáng tin cậy là tác giả.

Tôi thấy Nguyễn Thị Lê Na là cây bút có nghệ thuật tung hứng khá điêu luyện qua miêu tả những mảnh đời, cảnh ngộ, tâm trạng, số phận éo le của các nhân vật nữ.

Vì thế, nếu cần viết một câu ngắn gọn về tập truyện thứ ba của Nguyễn Thị Lê Na thì, hẳn nhiên đây là một bộ sưu tập về những mảnh vỡ của mảnh vỡ, của kiếp người – phận liễu, phận đàn bà xưa nay.

Kể chuyện từ cái nhìn bên trong

Nói lý thuyết thì đó chính là việc nhà văn nắm vững biện chứng pháp tâm hồn của con người/ nhân vật lúc viết văn, lúc kể chuyện đời. Tác giả thể nghiệm cách ướm mình vào nhân vật chính khi kể chuyện nên người đọc có cái cảm giác tin cậy bởi sự chân thành, chân chỉ, chân phương của chữ và nghĩa.

Để đạt tới hiệu quả của lối kể chuyện từ bên trong tác giả riêng thích chọn cách kể từ ngôi thứ nhất, nhân vật kể chuyện xưng “tôi”. Cách kể này tạo độ tin cậy ở người đọc, đồng thời tạo khoảng rộng tự do cho người kể chuyện. “Vần vũ mây trời” là một truyện tiêu biểu cho lối viết từ cái nhìn bên trong (hướng nội).

Phận liễu xưa nay... -0
Tập truyện ngắn “Bể người thăm thẳm” của Nguyễn Thị Lê Na.

Nhân vật “Tôi” luôn tự vấn “Ngay cả lúc này, khi các cung bậc cảm xúc không còn như ngày trước thì trong tâm trí tôi cũng đau đáu bóng hình anh ấy” (anh ấy là Hiếu, chồng “Tôi”). Trong cảnh ngộ này nhân vật “Tôi” rơi vào trạng thái không khảo mà xưng “Những buổi chiều cô đơn, tôi thường đi bộ ra ngồi trên ghế đá ở công viên gần nhà. Nỗi buồn bã cô liêu xâm chiếm. (...). Tôi ngồi nhìn dòng người dòng đời ngược xuôi, thấy mình cô quạnh, đơn chiếc trong chiếc váy bầu rộng thùng thình. Miên man suy nghĩ trong nỗi cô đơn hoang hoải”. Có thể thấy, đó là moment (khoảnh khắc) người phụ nữ yếu đuối nhất, cần che chở nhất, cũng là lúc dễ ngã lòng nhất.

Nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na thường trải nghiệm những “điểm rơi” như thế trong đời sống riêng tư. Ở những điểm rơi ấy cá tính, tâm trạng, cảnh ngộ của nhân vật thường hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết,  những điểm rơi điển hình như thế thường được sử dụng đi liền với những khoảng lặng (sự trống vắng tâm hồn, nỗi cô đơn), như một thứ thuốc thử hiệu nghiệm làm nổi rõ hình hài, thần thái, cảnh ngộ của nhân vật.

Với thể loại truyện ngắn thì đoạn kết thúc có ý nghĩa quan trọng hơn so với tiểu thuyết, bởi khi đặt bút viết đoạn mở đầu dường như tác giả đã nhằm sẵn đích đến của câu chuyện được kể, giống như vận động viên chạy cự li 100 mét đã nhìn thấy vạch đích trước mắt ngay sau khi hiệu lệnh xuất phát vang lên. Đây cũng chính là cái mốc để nhà văn phát huy cái nhìn từ bên trong, tái hiện thế giới nội tâm của nhân vật.

Với nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na thì quá khứ hay tương lai không quá quan trọng, không choán ngự tâm thế. Với bản tính trọng hiện sinh (cái đang tồn tại, hiện hữu), không hẹn mà gặp, những người nữ dẫu kinh qua bể khổ đời người đều chung cái tâm thế “Tự nhủ sẽ bắt đầu lại mọi thứ, bắt dầu từ những gì đang hiện hữu. Lòng tôi thư thái”. Nhân vật xưng “Tôi” trong truyện “Vần vũ mây trôi”, có thể nói điển hình cho kiểu nhân vật nữ trải qua những nghịch cảnh, những dang dở và đều có quyết tâm tái thiết cuộc đời.                         

Nhịp điệu văn xuôi

Thông thường, giới phê bình khi tiếp cận tác phẩm truyện đặc biệt chú ý đến chủ đề, kết cấu, nhân vật của tác phẩm và thuật kể chuyện của nhà văn. Nhưng tiếp nhận một tác phẩm truyện thì yếu tố “nhịp điệu văn xuôi” không thể không tính đến như một thành tố nghệ thuật quan trọng. Truyện của Nguyễn Thị Lê Na được đặc trưng bởi một nhịp điệu mang tính nhị nguyên, vừa gấp gáp vừa bình thản do sự cọ xát của hai hướng hành động của nhân vật khi tâm thế hướng ngoại hay hướng nội. Nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na thường có sự mâu thuẫn, giằng xé nội tâm.

Vì thế, khi tác giả men theo dòng tâm trạng tìm vào nội tâm thì câu văn chợt co kéo, ngắn lại; còn khi cần hành động thể hiện cá tính, bản lĩnh thì câu văn tự nhiên nở xòe ra linh hoạt “Tôi trở nên bình thản đến lạ. Bình thản với tất cả những gì xảy ra chung quanh. (...). Tự nhủ sẽ bắt đầu lại mọi thứ, bắt đầu từ những gì đang hiện hữu. Lòng tôi thư thái. Bên ngoài ô cửa sổ, điệu rơi của chiếc lá khô như một nốt nhạc lan tỏa giữa thinh không” (“Vần vũ mây trời”). Chính nhờ nhip điệu nước đôi này nên các hình thái tĩnh và động trong câu văn của Nguyễn Thị Lê Na khi sôi nổi, lúc trầm lắng nhịp nhàng như chính giai điệu của đời sống thực xung quanh chúng ta.

Bùi Việt Thắng
.
.
.