Khơi thông kênh dẫn vốn để tăng trưởng 2 con số
Để tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, nền kinh tế cần tới 38,5 triệu tỷ đồng. Nguồn vốn này, ngoài tín dụng ngân hàng, cần đẩy mạnh phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu, vốn đầu tư nước ngoài… trên cơ sở hài hòa chính sách tiền tệ, tài khoá.
Nền kinh tế cần 38,5 triệu tỉ đồng
Chia sẻ tại Hội thảo "Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số" do Báo Lao Động phối hợp với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức, bà Phạm Thị Thanh Tâm – Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho biết, theo ước tính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỉ đồng, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025 (khoảng 17,4 triệu tỉ đồng). Theo đó, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân 16%/năm, nâng tỉ lệ đầu tư/GDP bình quân từ khoảng 33% giai đoạn 2021-2025 lên khoảng 40% giai đoạn 2026-2030.
Trong các năm gần đây, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam duy trì ở mức khoảng 32-34% GDP - một tỉ lệ tương đối cao đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia từng duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài như Hàn Quốc (35-38% GDP giai đoạn 1970-1990), Singapore (35-40% GDP), Trung Quốc (40-45% GDP giai đoạn 1990-2015), quy mô vốn đầu tư của Việt Nam chưa đủ để tạo bứt phá mạnh mẽ và đặc biệt hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế.
Do đó, song song với việc tăng yêu cầu về quy mô vốn đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn phải được cải thiện rõ rệt. Lãnh đạo Chính phủ đã chỉ đạo việc giảm hệ số ICOR từ mức bình quân khoảng 6,3 giai đoạn 2021-2025 xuống còn khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026-2030.
Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần 4,8 đồng vốn đầu tư để tạo ra một đồng GDP tăng thêm, thay vì 6,3 đồng như trước đây - phản ánh yêu cầu nâng cao chất lượng thể chế, công nghệ và quản trị. Xét theo cơ cấu khu vực, vốn đầu tư nhà nước cần tăng bình quân khoảng 22%/năm; vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng khoảng 20%/năm; vốn đầu tư nước ngoài tăng khoảng 18%/năm.
Cơ cấu này cho thấy tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà phải dựa vào sự bứt phá đồng thời của khu vực tư nhân trong nước và dòng vốn FDI chất lượng cao.
Khẳng định nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển giai đoạn tới rất lớn, đặc biệt là nguồn vốn cho các dự án hạ tầng chiến lược, kết nối Bắc - Nam, kết nối khu vực và quốc tế, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết một chỉ tiêu quan trọng là tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 40% GDP. Nguồn vốn này bao gồm ngân sách nhà nước và vốn từ khu vực xã hội.
“Bản thân các doanh nghiệp cũng cần nguồn lực lớn để vừa giữ vững hoạt động trong bối cảnh biến động; vừa đầu tư, nghiên cứu, mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, quy mô thị trường vốn trong nước còn khiêm tốn, hệ thống các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp chưa đa dạng cả về loại hình và năng lực tài chính, các quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng, việc thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài còn một số hạn chế” - Thứ trưởng phân tích và khẳng định trong chính sách tài chính, định hướng là bảo đảm an ninh, an toàn tài chính. Chính sách tài khóa mở rộng nhưng có trọng tâm, trọng điểm.
"Thị trường chứng khoán thời gian qua có nhiều biến động. Nếu thị trường chứng khoán được phát triển minh bạch, an toàn, rõ ràng, sẽ tạo môi trường thuận lợi để huy động vốn cho đầu tư phát triển, không chỉ của Chính phủ mà còn của doanh nghiệp và toàn xã hội" - ông Chi nhấn mạnh.
Điểm nghẽn trong huy động và phân bổ vốn
Mặc dù nhu cầu huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế ngày càng lớn, song trên thực tế, việc huy động và phân bổ vốn trong nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn khác nhau. Theo đánh giá của chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, những điểm nghẽn này không chỉ đến từ phía doanh nghiệp mà còn liên quan đến cấu trúc của thị trường tài chính, khả năng tiếp cận vốn cũng như sự vận hành của các kênh dẫn vốn trong nền kinh tế.
Trước hết, một trong những hạn chế lớn hiện nay là nội lực tài chính của khu vực doanh nghiệp còn tương đối yếu. Bên cạnh đó, thị trường vốn của Việt Nam, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của nền kinh tế.
Và một điểm nghẽn khác nằm ở khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, sự phân bổ dòng vốn trong nền kinh tế cũng đang chịu ảnh hưởng bởi xu hướng đầu tư mang tính đầu cơ trong một số lĩnh vực. Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư vào bất động sản hoặc các hoạt động tài chính mang tính lướt sóng đã thu hút một lượng vốn đáng kể của xã hội. Khi dòng vốn có xu hướng dịch chuyển vào các hoạt động đầu cơ, nguồn lực dành cho khu vực sản xuất – kinh doanh có thể bị thu hẹp. Điều này làm giảm hiệu quả chung của quá trình phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.
Ông Đoàn Việt Nam, Phó Tổng giám đốc BIDV chia sẻ kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế tăng trưởng nhanh cho thấy, việc phát triển một hệ sinh thái tài chính đa tầng là yếu tố quan trọng giúp huy động hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thương mại tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong việc tài trợ cho các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án hạ tầng và công nghiệp quy mô lớn. Thứ hai, thị trường vốn là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng, bao gồm phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án và cổ phiếu. Thứ ba, mô hình tài trợ dự án ngày càng được áp dụng rộng rãi đối với các dự án hạ tầng lớn, trong đó nguồn vốn được thu xếp dựa trên dòng tiền của dự án thay vì bảng cân đối của doanh nghiệp. Thứ tư, nguồn vốn quốc tế từ các tổ chức tài chính phát triển, các ngân hàng nước ngoài và các quỹ đầu tư hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý.
“Việc kết hợp linh hoạt các kênh huy động vốn này sẽ tạo nền tảng tài chính vững chắc cho các doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư quy mô lớn”, ông Nam nói.
Đa dạng nguồn vốn, phát triển trung tâm tài chính quốc tế
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, trong khi cấu trúc nguồn vốn hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng. Các kênh huy động vốn dài hạn như thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư hay các định chế tài chính vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, nâng cao chất lượng thị trường và tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực vì vậy trở thành yêu cầu quan trọng để hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Với vai trò trụ lực, vốn tín dụng sẽ tiếp tục đóng vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà nhận định bối cảnh hiện nay đã đặt ra những yêu cầu về việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, phù hợp để đảm bảo cân đối hài hòa các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo cung ứng đủ vốn nguồn vốn tín dụng ngân hàng phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp trong nền kinh tế.
“Song song với việc đáp ứng đủ về quy mô, chúng ta còn cần chú trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng, định hướng dòng vốn tín dụng ngân hàng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng mới phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, trọng tâm là kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”, ông Hà chia sẻ.
Đi vào cụ thể, ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) cho rằng, hiện nay nền kinh tế Việt Nam có các kênh huy động vốn như tín dụng ngân hàng, từ phát hành trái phiếu, cổ phiếu, đầu tư công, đầu tư nước ngoài và các quỹ đầu tư trong, ngoài nước thì tín dụng ngân hàng vẫn là kênh huy động vốn quan trọng nhất và chiếm tỉ trọng lớn nhất. Agribank cho thấy ngân hàng sẵn sàng cung ứng vốn không chỉ cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các vùng phụ cận nông nghiệp, mà tất cả các ngành, các lĩnh vực khác.
Trong khi đó, theo ông Dương Thanh Tùng, Phó Tổng Giám đốc Dịch vụ Tư vấn Chiến lược, Rủi Ro và Giao dịch, Deloitte Việt Nam: Dù có nhiều cơ hội đầu tư tốt, Việt Nam lại đang sở hữu điểm nghẽn lớn là việc thiếu một hệ sinh thái thị trường vốn đủ sâu, đủ tin cậy để nâng định giá và kéo dài kỳ hạn vốn.
“Về vấn đề này, theo tôi, giải pháp nằm ở việc xác định vai trò của Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) với tư cách một “hệ điều hành” cho thị trường vốn quốc tế, thay vì chỉ là một “điểm đến”. Việc một IFC vận hành tốt sẽ giúp gây dựng niềm tin, nâng cao sự hiện diện của Việt Nam trong cấu trúc giao dịch quốc tế, đồng thời quản trị rủi ro tỷ giá, pháp lý, thuế và hội nhập từng bước phù hợp.
Còn theo ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tính phối kết hợp giữa các cấu phần của thị trường tài chính là điều tiện kiên quyết để thị trường tài chính phát triển hiệu quả. Về tổng quan thị trường tài chính, khi chia thị trường tài chính ra các cấu phần cơ bản thì nguồn tiền đến từ đâu và tiền đi đâu. Hiệu quả của thị trường tài chính từ đơn vị sử dụng tiền hiệu quả. Hiệu quả sẽ được do bằng lợi suất và rủi ro.

Tăng quyền xử lý nợ xấu, khơi thông nguồn vốn tín dụng
Liên kết doanh nghiệp để tiếp cận vốn tín dụng