Cù Bai – một miền quê mới giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ
Những ngày đầu tháng Giêng âm lịch, khi người dân bắt đầu xuống đồng cho vụ sản xuất mới, bản biên giới Cù Bai, xã Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị hiện ra trong sắc xanh mạ non trải khắp thung lũng. Ít ai ngờ, vùng đất từng là “điểm trắng” hạ tầng, lặng lẽ nằm bên trục Đường Hồ Chí Minh huyền thoại, hôm nay đang từng bước định hình diện mạo một miền quê nông thôn mới giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.
Buổi sáng ở Cù Bai bắt đầu bằng tiếng xe máy nổ giòn ngoài sân nhà sàn, tiếng trẻ nhỏ gọi nhau đến điểm trường mầm non và mùi khói bếp quyện gió núi. Trong căn nhà gỗ đã được lợp tôn lạnh, ông Hồ Văn Tửu, già làng của bản, chậm rãi nhắc lại những năm tháng khó đến tận cùng của bản làng. Ngày ấy, từ trục chính rẽ vào Cù Bai là cả một hành trình vượt suối, leo dốc. Xe tải chở nhu yếu phẩm, vật tư sản xuất có khi cả tháng mới vào được một chuyến. Điện chập chờn, nước sinh hoạt phụ thuộc khe suối. Lúa nước chỉ có vài mảnh ruộng nhỏ, làm thủ công, năng suất bấp bênh. Người dân chưa quen trồng rừng, chưa biết cách chăn nuôi theo hướng hàng hóa. Cái đói, cái nghèo bám riết nhiều gia đình.
Không chỉ thiếu thốn về vật chất, Cù Bai những năm ấy còn bị níu chặt bởi nhiều hủ tục. Ốm đau, người nhà làm lễ cúng thay vì tìm đến trạm y tế. Con gái mới 15 – 16 tuổi đã bị ép lấy chồng. Phụ nữ khi sinh nở phải ra những chiếc lán dựng tạm ngoài rừng, tự vượt cạn giữa thiếu thốn trăm bề. Nhịp sống ở Cù Bai khi ấy lặng lẽ và nhọc nhằn, ngày nối ngày trôi qua từ lúc mặt trời nhô khỏi đỉnh núi cho đến khi ánh chiều khuất dần sau dãy rừng phía sông Sê Pôn, bên kia biên giới Lào. “Bây giờ thì khác rồi”, Trưởng thôn Hồ Văn Đươn mở cuốn sổ ghi chép, chỉ từng con số như minh chứng cho sự đổi thay. Cù Bai hiện có khoảng 25 ha lúa nước, 30 ha sắn, hơn 380 ha cây bời lời, gần 20 ha rừng tràm; tổng đàn trâu, bò, dê xấp xỉ 600 con, cùng 9 ao nuôi cá các loại.
Điều đáng nói không chỉ là diện tích mà là cách làm. Bà con đã biết chọn giống, làm đất đúng quy trình, áp dụng kỹ thuật mới. Lúa đạt năng suất bình quân trên 5 tấn/ha. Riêng cây bời lời – loại cây từng bị xem là “trồng cho có” – nay trở thành cây sinh kế chủ lực, mỗi ha cho khoảng 20 tấn vỏ tươi mỗi năm, tương đương nguồn thu khoảng 60 triệu đồng/ha (tính theo giá bình quân 3.000 đồng/kg). Lúa bảo đảm lương thực thường nhật, còn bời lời và chăn nuôi giúp nhiều hộ có nguồn thu ổn định để lo học hành cho con cái, sửa sang nhà cửa. Từ một bản hầu như không có phương tiện cơ giới, đến nay phần lớn hộ dân đã có xe máy, tivi, máy xay xát nhỏ phục vụ sản xuất. Nhà sàn được cải tạo kiên cố hơn. Trẻ em ra lớp đều đặn. Những đám cưới sớm, những ca sinh nở giữa rừng sâu dần lui vào ký ức.
Cuộc trò chuyện đang rôm rả thì Bí thư Chi bộ thôn Hồ Văn Thăng và Thiếu tá Nguyễn Minh Tiến, Trạm trưởng Trạm Kiểm soát Biên phòng Cù Bai, ghé vào. Câu chuyện lập tức chuyển sang vai trò của tổ chức Đảng ở thôn bản. Theo Bí thư Chi bộ, chi bộ Cù Bai hiện có 27 đảng viên. Trong mỗi kỳ sinh hoạt, chi bộ đều lựa chọn những nội dung rất sát với đời sống của người dân, như hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo; vận động bà con giữ gìn vệ sinh môi trường, đưa trẻ em đến trường đúng độ tuổi; hướng dẫn người dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi. Những việc tưởng chừng nhỏ nhưng chính là nền tảng để từng bước thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong cộng đồng.
“Cái được lớn nhất ở Cù Bai không phải chỉ là thêm ruộng, thêm cây mà là người dân đã hiểu muốn thoát nghèo thì phải tự mình làm ra của cải”, Thiếu tá Nguyễn Minh Tiến, Trạm trưởng Trạm Kiểm soát Biên phòng Cù Bai, chia sẻ. Theo anh, tinh thần trông chờ, ỷ lại đang dần được thay thế bằng ý thức làm ăn, giữ gìn bản làng, chủ động tham gia các tổ tự quản đường biên, cột mốc. Vai trò nêu gương của già làng, người có uy tín và đội ngũ đảng viên trong thôn là yếu tố then chốt. Trong câu chuyện ấy, cái tên được nhắc đến nhiều là Hồ Phơng, 88 tuổi đời, 41 năm tuổi Đảng – người được bà con xem như một ngọn đuốc trong các phong trào của bản.
Ông bảo, cán bộ Bộ đội biên phòng, Công an ở đây sống cùng dân, làm cùng dân, ăn bắp, ăn sắn như dân. Từ những ngày đầu khai hoang ruộng nước, mở mương dẫn thủy đến việc hướng dẫn trồng rừng, làm chuồng trại, rồi dạy chữ cho trẻ nhỏ… ở đâu cũng có sự đồng hành bền bỉ của lực lượng đứng chân trên địa bàn.
Dấu ấn ấy gắn chặt với lịch sử hình thành của các đơn vị đứng chân trên địa bàn. Từ những ngày đầu bảo vệ biên giới, cắm cờ Tổ quốc ở khu vực tiếp giáp giới tuyến tạm thời sau năm 1954, lực lượng Công an nhân dân vũ trang, tiền thân của Bộ đội Biên phòng, đã có mặt ở Cù Bai. Trải qua nhiều giai đoạn, đơn vị nay là Đồn Biên phòng Hướng Lập, hiện quản lý toàn bộ địa bàn xã Hướng Lập, bảo vệ hơn 28,5km đường biên giới, 16 mốc quốc giới và 5 cọc dấu.
Từ năm 1998, đơn vị chuyển về doanh trại mới ở bản A Xóc nhưng Cù Bai vẫn là nơi in đậm dấu chân của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Theo Hồ Văn Quân, Chính trị viên phó đơn vị, dựa vào dân để xây dựng đơn vị vững mạnh và giúp dân phát triển sinh kế là phương châm xuyên suốt. Đồn Biên phòng Hướng Lập đã hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phần thưởng không chỉ dành cho người lính mà còn là sự ghi nhận cho tình quân – dân bền chặt nơi miền biên viễn Cù Bai.
Ông Nguyễn Minh Tâm, Chủ tịch UBND xã Hướng Lập, cho biết Cù Bai hiện có 135 hộ, 660 nhân khẩu, 100% là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Đến cuối năm 2025, số hộ nghèo giảm còn 64 hộ (46,37%), hộ cận nghèo còn 5 hộ. Đáng chú ý, đã xuất hiện những gia đình có thu nhập khoảng 200 triệu đồng mỗi năm – con số từng được xem là rất khó hình dung đối với một bản biên giới như Cù Bai. Song song với phát triển kinh tế, người dân Cù Bai ngày càng tham gia tích cực vào các tổ tự quản đường biên, cột mốc, phối hợp tuần tra, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã Hướng Lập, góp phần vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Lào nơi tuyến biên giới.
Chiều xuống rất nhanh trên những sườn núi. Từ hiên nhà sàn, nhìn về cánh đồng lúa đang thì con gái, tôi nghe nhiều câu chuyện về dự định mở rộng ruộng nước, trồng thêm bời lời, nuôi bò sinh sản, cho con theo học nghề ở phố thị. Những toan tính đời thường nhưng chất chứa trong đó là khát vọng thoát nghèo một cách bền vững. Con đường phía trước của Cù Bai chắc chắn còn dài, còn không ít thách thức. Nhưng từ một bản biên giới từng bị che phủ bởi đói nghèo và hủ tục, Cù Bai hôm nay đã tự viết lại hành trình của mình – bằng ruộng nước, rừng cây, những lớp học sáng đèn và, trên hết, bằng sự đổi thay từ trong suy nghĩ của mỗi người dân.

Vững vàng thế trận an ninh nhân dân nơi đại ngàn Tây Nguyên
Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn