Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Thứ Tư, 22/04/2026, 08:33

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...

Thêm một nhân vật lịch sử gây tranh cãi đi vào tiểu thuyết

Vừa qua, NXB Phụ nữ Việt Nam đã ấn hành tiểu thuyết lịch sử "Linh Từ Quốc mẫu" của tác giả Minh Nguyên, tái hiện cuộc đời bà Trần Thị Dung - nhân vật lịch sử có vai trò to lớn trong công cuộc chuyển giao quyền lực giữa nhà Lý sang nhà Trần - nhưng đến nay vẫn tồn tại nhiều luồng ý kiến gây tranh cãi.

Tác giả đã lấy cảm hứng từ cuộc đời một nhân vật có thật trong lịch sử, mà sự thăng trầm và những điều bí ẩn bao quanh cuộc đời bà đã tạo nên những tranh luận không ngớt trong giới sử học để xây dựng nên tiểu thuyết.

Linh Từ Quốc mẫu hay còn gọi là Kiến Gia hoàng hậu, là vị hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý với tư cách là vợ của hoàng đế Lý Huệ Tông, nhưng về sau lại là vợ của Trần Thủ Độ - vị thái sư quyền lực chi phối toàn bộ triều chính nhà Trần. Bà cũng là mẹ ruột của Lý Chiêu Hoàng - vị nữ hoàng đầu tiên và duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam và Thuận Thiên hoàng hậu - người sinh ra Vua Trần Thánh Tông.

1.jpg -0
Nhà văn Phùng Văn Khai (ngồi giữa) trong một buổi giao lưu, ra mắt tiểu thuyết lịch sử.

Thân thế, cuộc đời và những quyết định liên quan đến vận mệnh triều chính của một quốc gia của bà Trần Thị Dung từng khiến sử thần thời Lê là Ngô Sĩ Liên nhận định: "Linh Từ trước lấy Huệ Tông là bất chính, sau lấy Trần Thủ Độ là thất tiết. Thế nhưng, con gái bà là Chiêu Hoàng, nhường ngôi cho nhà Trần. Thuận Thiên là hoàng hậu của Thái Tông, sinh ra Thánh Tông. Yên Sinh Vương (Trần Liễu) hiềm khích với Thái Tông, Linh Từ đã điều đình hòa giải, lại tình nghĩa anh em như xưa...".

"Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam" (tr.76) viết: "Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất, bà Trần Thị Dung có công chỉ huy hoàng tộc chủ động rút khỏi kinh đô Thăng Long, sau đó lại lo liệu thu nhặt sắt thép, động viên các hiệp thợ ngày đêm rèn đúc vũ khí để cung cấp cho quân đội Trần. Bà còn lo liệu cả lương thực, thực phẩm để cung cấp cho quân đội đánh giặc. Sau chiến thắng Đông Bộ Đầu, tháng 1/1258, quân dân Đại Việt đuổi giặc Nguyên - Mông ra khỏi bờ cõi, giữ vững nền độc lập của Tổ quốc. Với công lao to lớn của bà, nhà vua đã sắc phong bà là Linh Từ Quốc mẫu...".

Từ những điều ghi chép trong chính sử ấy cũng đã lý giải phần nào lý do tại sao cho đến nay bà vẫn là một trong số ít nhân vật "nữ quyền" gây tranh cãi nhất trong lịch sử Việt Nam.

Có thể nói, tác giả của tiểu thuyết lịch sử "Linh Từ Quốc mẫu" đã thành công tái hiện lại cuộc đời đầy biến động của một người người phụ nữ có tầm ảnh hưởng vô cùng quan trọng trong việc nhà Trần soán ngôi nhà Lý.

Cuốn sách cũng luôn đặt người đọc vào một vòng xoáy những câu hỏi: là vợ của hoàng đế triều Lý rồi lại lấy thái sư nhà Trần, ép nữ đế phải thoái vị, trao lại quyền lực nhà Lý cho nhà Trần, ép con gái bỏ chồng, con rể lấy chị dâu, tàn nhẫn với chính máu mủ của mình, Trần Thị Dung có sai không?

Cũng chính bà là người đã cáng đáng toàn bộ sự vất vả gian truân, trầm luân để mở nghiệp nhà Trần, cộng tác đắc lực với Trần Thủ Độ bảo vệ sự vững mạnh của nước nhà để chống giặc Nguyên - Mông. Vậy, bà có công hay tội?

Qua đó, người đọc cũng thấy được một Trần Thị Dung với tất cả những hỉ nộ ái ố đời thường, tưởng như nắm tất cả quyền biến trong tay nhưng đến khi lìa xa cõi đời, cũng chỉ mong cầu được nghe lại lần nữa tiếng gọi "Mẹ" từ con gái Lý Phật Kim, tức Lý Chiêu Hoàng - người mà cả đời bà phải day dứt khôn nguôi. Trước khi là bậc mẫu nghi thiên hạ, bà cũng chỉ là một người phụ nữ rất đỗi bình thường, khao khát yêu và được yêu, cho đi và nhận lại xứng đáng.

Dấu ấn tích cực trong đời sống đương đại

Trong dòng chảy biến thiên của lịch sử dân tộc hàng ngàn năm qua, gắn với sự hưng vong của nhiều triều đại, nhiều nhân vật lịch sử và số phận của họ cùng với truyền thống chống ngoại xâm, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc. Từ trước khi có chữ Quốc ngữ ra đời, Việt Nam dường như không có khái niệm về tiểu thuyết lịch sử, mà những câu chuyện liên quan đến lịch sử chỉ có trong huyền sử, dã sử mang đậm màu sắc tâm linh.

Đầu thế kỷ XX, cùng với sự phổ cập của chữ Quốc ngữ trong các nhà trường và của văn học báo chí, những câu chuyện lịch sử bắt đầu được các nhà văn, nhà báo sưu tầm, viết lại, đăng tải trên các báo và in thành sách. Ban đầu, chủ yếu là dạng truyện lịch sử dành cho thanh, thiếu, nhi với những tên tuổi như Thâm Tâm, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân... như một loại sách để phổ cập, giáo dục, trang bị về kiến thức lịch sử cho trẻ em về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc.

Phải đến những thập niên cuối của thế kỷ XX, thể loại tiểu thuyết lịch sử mới trở nên quen thuộc và trở thành một dòng chảy rõ nét trong đời sống văn học nước nhà. Đặc biệt, cách đây hơn 20 năm, "Cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến" được TP Hà Nội phát động nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội đã thu được nhiều thành quả đáng ghi nhận.

Sự ra đời của một số bộ tiểu thuyết lịch sử trong và sau cuộc vận động này đã để lại những dấu mốc đáng kể, thậm chí đã trở thành những tác phẩm có vị trí quan trọng trong sáng tác văn học đầu thế kỷ XX như: Bộ tiểu thuyết "Bão táp triều Trần" và "Tám triều vua Lý" của Hoàng Quốc Hải, "Hồ Quý Ly" và "Đội gạo lên chùa" của Nguyễn Xuân Khánh, "Bóng nước hồ Gươm" của Chu Thiên, "Vằng vặc sao Khuê" và 14 tập dã sử của Hoàng Công Khanh, "Nắng kinh thành" của Siêu Hải...

222.jpg -1
Tiểu thuyết lịch sử đang có những đóng góp tích cực trong đời sống văn học.

Sau khoảng một thập niên rơi vào im ắng, khoảng 10 năm trở lại đây mới có sự xuất hiện trở lại của những cây bút cũ và mới góp phần làm nên một dòng tiểu thuyết lịch sử đa sắc màu như: Trần Thùy Mai với 2 tiểu thuyết về triều Nguyễn "Từ Dụ Thái hậu" và "Công chúa Đồng Xuân"; Lưu Sơn Minh với "Trần Quốc Toản" và "Trần Khánh Dư"; Trường An với bộ 3 tiểu thuyết về thời Tây Sơn là: "Thiên hạ chi vương", "Vũ tịch", "Hồ Dương"; Nguyễn Trọng Tân với bộ 3 tiểu thuyết "Thư về quá khứ", "Thiên mệnh" và "Thiên thu huyết lệ"; Nghiêm Thị Hằng với "Tiếng vọng Hồ Xuân Hương", Lê Phương Liên với "Nữ sĩ thời gió bụi", Võ Khắc Nghiêm với "Thị Lộ chính danh"...

Đặc biệt, sự xuất hiện của nhà văn Phùng Văn Khai với 7 tiểu thuyết lịch sử là: "Phùng Vương", "Ngô Vương", "Nam Đế Vạn Xuân", "Triệu Vương phục quốc", "Lý Đào Lang Vương", "Lý Phật Tử định quốc", "Trưng nữ Vương" đã tạo nên một diện mạo tương đối đầy đủ về các triều đại đã có trong lịch sử dân tộc bằng văn học.

Nhắc đến những cây bút chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, không thể không kể đến nhà văn Hoàng Quốc Hải bởi vì ông là chủ nhân của 2 bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ là "Bão táp triều Trần" và "Tám triều vua Lý" mà ông đã dành cả cuộc đời để hoàn thành.

Nhà văn Phùng Văn Khai - người tự nhận là học trò của nhà văn Hoàng Quốc Hải - chia sẻ: "Chính sự bền bỉ, chuyên tâm, trân trọng lịch sử của nhà văn Hoàng Quốc Hải đã trở thành một biểu tượng để anh phấn đấu, học hỏi để có thể có thêm những đóng góp tích cực trong việc dựng nên "gương mặt" các triều đại gắn với những biến cố quan trọng của đất nước bằng văn học. Đồng thời, nó cũng cho thấy, đề tài lịch sử chắc chắn phải có sức hút, sức hấp dẫn đáng kể mới khiến nhà văn Hoàng Quốc Hải gần như đã dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu, tìm hiểu và viết về lịch sử. Và tôi, gần 20 năm bước chân vào "lãnh địa" này cũng cảm thấy bị cuốn hút, viết chưa xong về nhân vật này, triều đại này đã nghĩ tới việc tìm tư liệu và cảm hứng về một nhân vật, một triều đại khác...".

Nguyệt Hà
.
.
.