"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

Thứ Năm, 23/04/2026, 03:47

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

3446042442718572076.jpg -1
Nhà văn Trương Vân Ngọc.

Nhan đề ấy chỉ loài hoa cẩm chướng đỏ, mang ý nghĩa biểu tượng cho tình yêu nồng cháy, ý chí kiên cường vượt qua mọi thử thách trong tình yêu của Lộc và Thúy. Tác phẩm gồm 278 trang khổ vừa, 8 chương với các tiêu đề: Tiếng gọi miền biên ải; Nước mắt dòng Nậm Thi; Mưa nguồn lũ suối; Đêm rừng Mường Khương; Nắng chiều Dìn Chin, Thuyền xuôi vạn lý; Lối về thương nhớ; Nhành phăng trái mùa.

Bối cảnh của tác phẩm là những năm chín mươi của thế kỷ trước, khi đất nước đang chuyển mình, đời sống xã hội rất nhiều khó khăn. Nhà văn giúp người đọc hiểu rõ những phận người lam lũ, vật lộn với đói nghèo, buôn lậu, bạo lực, cám dỗ và làm nổi bật vai trò không thể thay thế của lực lượng công an trong việc giữ gìn kỷ cương và bình yên cho nhân dân. Tác phẩm để lại trong người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc khó quên.

Hành trình người trẻ tự lập vào đời và mối tình bi thương, hấp dẫn

Nội dung truyện kể về mấy năm bước chân vào đời của chàng trai trẻ - nhân vật trung tâm - tên Lộc, yêu cô bạn gái cùng lớp tên Thúy. Cả hai cùng yêu thích hoa phăng đỏ. Lộc vừa học xong phổ thông, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đông con nên không có điều kiện thi và học ngay Đại học.

Năm 19 tuổi, Lộc rời nhà đi tìm việc làm ở vùng biên Cốc Lếu - Lào Cai, tự hứa khi tích cóp được chút tiền sẽ về tiếp tục con đường học tập, thực hiện mơ ước. Lộc từng nghĩ: "Nếu đi thì chưa chắc có tới được đích hay không nhưng không đi thì chắc chắn vĩnh viễn không bao giờ tới cả" (tr40)....

Chính vì lăn lộn bốc hàng và từng trải nhiều công việc lại chăm chỉ, có chút vốn tiếng Trung và khỏe mạnh, Lộc được bọn chủ buôn dần tin tưởng, được theo đến những mối xa giao dịch. Lộc giàu tình cảm nhưng nội tâm đầy giằng xé.

Lộc có chuyến đi xuống Hà Nội thăm Thúy đang học Sư phạm, "Từ buổi đó, tôi gọi nàng là Phăng, bông hoa Phăng xinh đẹp của tôi, thắm đỏ tươi tắn và căng tràn sức sống" (tr96). Nhiều khi, ký ức về Thúy cứ trở đi trở lại trong Lộc: nhớ những ngày cùng đi mót lúa; nhớ lần Thúy bị ngã xuống sông nhưng đã rất bình tĩnh lượn theo chiều nước mà bơi được vào bờ; nhớ lần ở trường cùng nhau ăn cơm nắm với tóp mỡ ngon ơi là ngon…

Rồi Lộc lại ngược miền biên ải tiếp tục làm việc. Trong lần Lộc cùng đi chọc sàn gái bản tìm vợ - thực chất là anh Bình cùng Dương mượn cớ đi điều tra, anh Dương đã bị tay chân mụ Yan giết nhầm bằng súng, vứt xác xuống sông. "Sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau một chớp mắt" (tr69).

Cái chết thương tâm của anh Dương đã thức tỉnh Lộc. Sau cậu còn phải trải qua nhiều lần bị đánh dã man, bị lạc rừng... và được vợ chồng A Sinh cứu mạng. Được anh Lương cảm hóa rồi giao việc, cậu cùng chị Du làm tay trong, giúp công an đắc lực trong điều tra phá án buôn lậu, buôn bán ma túy và cả trọng án. Lộc có lúc đã sai lầm và rất ân hận "Tôi đúng là kẻ tội đồ, gã đàn ông khốn nạn, sao lại có thể gây ra một việc đớn đau với người mình yêu thương… Không, Thúy ơi anh về với em ngay bây giờ đây" (tr215).

Nhân vật Lộc không phải là hình mẫu thanh niên lý tưởng, trái lại cậu mang những nét rất đời thường: biết yêu, biết rung động, đồng thời cũng có lúc sa ngã vì tác động của hoàn cảnh. Thông qua nhân vật Lộc và mối tình với Thúy, truyện gửi đi thông điệp nhân văn sâu sắc: Con người luôn phải đối diện với lựa chọn giữa tình cảm và trách nhiệm, giữa cá nhân và xã hội; tình yêu không thể tách rời hoàn cảnh sống. Chính trong những thử thách ấy, giá trị thực của tình yêu và nhân cách càng được bộc lộ rõ nét.

Thúy (Phăng) là cô gái mang vẻ đẹp dịu dàng nhưng ít xuất hiện. Cô là người yêu của Lộc, cũng là nút thắt quan trọng trong mạch truyện. Tình yêu của Lộc - Thúy là điểm nhấn giàu cảm xúc. Qua mối tình tha thiết, bi thương,  nhà văn khắc họa được chiều sâu nội tâm nhân vật. Tác phẩm không chỉ có yếu tố trinh thám mà còn là câu chuyện về con người, về cuộc đời đầy ám ảnh.

Khắc họa thành công hình ảnh người chiến sĩ công an

Hình ảnh người chiến sĩ, cán bộ Công an được tái hiện trong tác phẩm có đức tính đáng quý, xuất hiện song hành với những tháng ngày vào đời của Lộc. Đó là các anh Lê Thanh Bình, Nguyễn Thanh Lương có biệt danh "Trâu đất" và chú Kiệt - đồn trưởng đồn Công an huyện Mường Khương. Các nhân vật được miêu tả khi trực tiếp, lúc gián tiếp. Tuy hoàn cảnh gia đình, độ tuổi và tính cách khác nhau, nhưng đều vì nhiệm vụ và vì nhân dân.

Bình và Lương trong quá trình điều tra phá án luôn đặt nhiệm vụ lên trên hết. Các anh thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp, trí tuệ sắc sảo. Trước bọn trùm buôn lậu, các anh nghiên cứu kỹ, phân tích chứng cứ, lần rõ manh mối để tìm ra sự thật. Anh Bình trong cuộc truy bắt bọn tội phạm ma túy đã băng mình cứu nguy cho thủ trưởng Kiệt và đã hy sinh anh dũng, để lại bao tiếc thương. Quá trình hoạt động của các anh trong tiểu thuyết được trần thuật dung dị và hấp dẫn.

Tác phẩm đã góp phần giải mã hành trình phá một số vụ án vùng biên giới phía Bắc, cụ thể là ở vùng Pha Long, Xín Tẻn, Dìn Chin.  

-nh bìa tác ph-m phang d-.jpg -0
Ảnh bìa tác phẩm “Phăng đỏ”.

Các anh Công an chẳng quản vất vả, khó nhọc, sẵn lòng giúp đỡ quần chúng. Anh Bình dưới lốt một người cửu vạn, thường xuyên quan tâm dìu dắt Lộc nhiều mặt. Khi Bình có nguy cơ bị lộ, anh “Lương sắt” - "Trâu đất" sẵn sàng dấn thân, cùng đi bốc vác thuê như bao người lao động khác để điều tra. Anh âm thầm giúp đỡ Lộc, có lần còn cứu mạng cậu thoát chết trong gang tấc.

Chương cuối truyện, Lộc mới hay: "Trong thư chị Du cho biết thêm, người thanh niên có giọng nói miền Trung đã cứu tôi ở cầu Sập chính là anh "Trâu đất", tên thật là Lương, biệt hiệu "Lương sắt". Kịch bản để Lộc quay lại chỗ mụ Yan cũng như phương án vây bắt lão "Đài đỉa" là do anh đề xuất. "Cả hai trận đánh ấy ai cũng làm tròn vai của mình, vì thế chuyên án ma túy mụ Yan và A Zhong cùng các chân rết được phá thành công" (tr219).

Sau này, anh Lương còn về tận nhà Lộc, thuyết phục bố mẹ cậu đồng ý để Lộc và Thúy làm đám cưới khi đã có thằng cu Sóc. Không chỉ đấu tranh chống bọn tội phạm, các chiến sĩ Công an còn quan tâm và yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ người dân khi thiên tai, lũ lụt: "Trận bão vừa rồi, Lương cùng đồng đội tham gia giúp dân chống lũ và bị thương khá nặng, chuyển xuống bệnh viện Hà Nội đã hơn chục ngày" (tr263) đã khiến bà con hết sức cảm kích và biết ơn.

Đôi nét đặc sắc nghệ thuật

Nhân vật là linh hồn của mỗi tác phẩm truyện. Cuốn tiểu thuyết bên cạnh xây dựng thành công nhân vật Lộc và các chiến sĩ công an, sáng tạo cốt truyện giàu kịch tính, tài kể chuyện của tác giả rất cần được ghi nhận. Trần thuật bằng giọng điệu thế nào là biểu hiện tài năng của mỗi nhà văn. Tác phẩm sử dụng cách kể ở ngôi thứ nhất "tôi" - người trực tiếp tham gia vào các chi tiết và sự kiện - khiến cho diễn biến và mạch truyện rất chân thực, câu chuyện mở ra bức tranh đời sống cửu vạn, buôn lậu, xã hội đen và những phận người nhỏ bé bị cuốn vào vòng xoáy mưu sinh khắc nghiệt.

Điểm  ghi nhận nữa là tác phẩm vận dụng sáng tạo nhiều câu tục ngữ ca dao  thích hợp như: "Chồng người lên ngược xuống đoài/chồng tôi chỉ biết nằm dài đợi ăn" (tr76); "Người khôn của khó"; "Không ai nắm tay đến tối, gối tay đến sáng"(tr119); "Đánh kẻ chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại” (tr173); "Chuông khánh còn chẳng ăn ai/ huống chi mảnh chĩnh ngoài bờ tre"; “Trẻ tuổi cha già cậy con" (260)...

Tiểu thuyết "Phăng đỏ" vừa mang đậm hơi thở đời sống miền biên ải vừa khắc họa thành công chân dung chân thực đến ám ảnh về người trẻ vào đời tự lập và người chiến sĩ Công an nhân dân với phẩm chất cao đẹp. Tác phẩm xứng đáng đạt Giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025. Với đà này, tin rằng nhà văn Trương Vân Ngọc sẽ còn đi xa.   

Xuân 2026

Nguyễn Thị Thiện
.
.
.