Ngày Xuân kể chuyện "Bói Kiều"

Thứ Bảy, 21/02/2026, 09:02

Là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn nửa đầu thế kỷ 18, Nguyễn Du được người đời kính trọng, tôn vinh là “Đại thi hào dân tộc”, được UNESCO vinh danh “Danh nhân văn hóa thế giới” vào ngày 25/10/2013, tại kỳ họp lần thứ 37 của Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc tại Paris đã chính thức ban hành quyết định số 37C/15 vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du cùng với 107 danh nhân văn hóa toàn thế giới.

Thực ra ông được lập hồ sơ vinh danh nhiều lần, bắt đầu từ từ năm 1965, nhưng UNESCO xét quy định 50 năm hay 100 năm chẵn mới vinh danh. Tác phẩm của Nguyễn Du không nhiều: ngoài “Truyện Kiều” nổi tiếng thì chỉ có ba tập thơ chữ Hán: “Thanh hiên tiền hậu tập”, “Nam trung tạp ngâm”, “Bắc thành tạp lục” và mấy tập ghi chép: “Mười năm gió bụi”, “Dưới chân núi Hồng”, “Ra làm quan ở Bắc Hà”.

truyen kieu kiet tac.jpg -0
“Truyện Kiều” - kiệt tác của nhân loại.

Những tập ấy không thể sánh với “Truyện Kiều”. Vậy thì chứng tỏ “Truyện Kiều” phải là một tác phẩm có giá trị lớn về nhiều mặt, Nguyễn Du mới được vinh danh như thế. Gần 300 năm với hàng trăm nhà nghiên cứu, mỗi người nghiên cứu một khía cạnh, đến nay chúng ta đã liệt kê các nghiên cứu với trữ lượng tri thức trong “Truyện Kiều” gồm: Về học thuật chuyển chữ Hán sang chữ Nôm (gốc Việt) thì “Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những bản khởi sắc hoàn thiện chữ Nôm có giá trị nhất. Về dung lượng bác học: “Truyện Kiều chứa nghĩa ngữ cảnh ở mức đa dạng về xã hội kim cổ học đến mức người mù chữ vẫn đọc rành “Truyện Kiều” qua truyền khẩu.

Về tự nhiên học: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ có văn mà còn có cả toán, lý, hóa. Về dịch học: “Truyện Kiều” đích xác là một bản phiên dịch của riêng Nguyễn Du. Về Thần học: Nguyễn Du là “Thần đồng tâm linh”. Về quân sự học: Ít người biết Nguyễn Du văn võ song toàn; xem trong “Truyện Kiều” thì thấy xuất hiện những sai nha, tướng lĩnh - Đại tướng Từ Hải bại trận đến độ chết đứng.

Về văn hóa học: bày tỏ qua “Truyện Kiều” trên một nền văn hóa quyến luyến ký ức, xao nhãng thực tại, nội chiến tranh giành, ví như “Tang thương ngẫu lục” của Nguyễn Án và Bùi Cầm Hồ (cùng thời với Nguyễn Du), thơ “ Nhục cảm khởi lộ” của Hồ Xuân Hương, bạn gái thân thiết trên mức bình thường của Nguyễn Du. Về lịch sử học: bộc lộ vận nước u sầu, thất thế, củng cố đạo đức trong giai đoạn cuối Lê mạt, đầu triều Nguyễn.

Về Tiên tri học: bói Kiều là tập hợp tổng hợp các dự báo, tiên tri và ngoại cảm. Về linh cảm học: đọc “Truyện Kiều”, chẻ ra từng câu đều thấy linh cảm, dự báo có lúc hẹp, có lúc rộng. Về triết học: tập hợp đa dạng các thuyết nhân sinh, nhân quả, biện chứng, và các thuyết khác. Về Việt Nam địa chí học: Dàn trải địa chí theo văn hóa tập tục trong thơ ca.

Về Tình yêu học: Mô tả chi tiết tình yêu ý tứ, duyên nợ, nhân cách và dục vọng đến đỉnh cao mà không suồng sã, tục tĩu. Về gia đình học: Định nghĩa trên cả mô tả về các trạng thái gia đình mạt phúc, tốt phúc, bình an và tai họa qua thời cuộc. Về âm nhạc học: Siêu hạng về mô tả âm thanh qua phong cảnh và nhạc cụ cổ. Về Mỹ thuật học: Dùng nhiều từ ngữ dân gian trong chữ nôm, nhưng có khiếu chơi chữ, phải mở điển tích và địa danh, con người bác học mới hiểu được.

Về Nhân chủng học: Am hiểu thâm sâu về lý tính con người, chuẩn mực miêu tả đa nhân vật ứng với đa nhân cách. Về quan trường học: Nguyễn Du tuy không đỗ khoa bảng nhưng có trình độ đại học thời ông sống, lại là thành viên gia đình quý tộc nên được cử làm quan ở Thái Nguyên, chức tương đương Tỉnh đội trưởng cuối thời Lê mạt, làm quan chánh sứ, phụ trách Văn Miếu - Quốc tử giám nhà Nguyễn.

Về giang hồ học: Nhiều lần bị phế quan, bị truy nã do nội chiến cuối thời Lê mạt, chạy trốn khắp các tỉnh, kể cả tù ngục (bắt tạm giam 3 tháng năm 1796 khi ông trốn vào Gia Định. Sau khi được tha, ông trở về Tiên Điền và sáng tác bài thơ “Mỹ trung mạn hứng” (Cảm hứng trong tù). Về Quốc tế học: Đi sứ Trung Quốc năm 1813 và viết sách “Bắc hành tạp lục”. Tập thơ chữ Hán ghi lại ấn tượng về chuyến đi này, trong đó có bài thơ “Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ” khi ông đến thăm mộ Đỗ Phủ ở Lỗi Dương.

Như vậy, có thể tạm tính cho đến thời điểm này, Nguyễn Du có 21 lĩnh vực tri thức tập hợp trong con người ông để ông sáng tác “Truyện Kiều”. Chính vì tác phẩm bao chứa kiến thức muôn mặt như thế nên từ xưa người Việt đã coi giá trị “dự báo” của "Truyện Kiều" giống như Kinh Dịch, Tử vi, bốc quẻ.

Chẳng hạn như câu thơ thứ 1954 trong Truyện Kiều là “Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai”; đây là câu thơ Thúc Sinh nói với Thúy Kiều khi chàng phải đoạn tuyệt với nàng trong nỗi đau buồn khôn xiết, ứng với năm 1954 đất nước phải chia đôi,theo hiệp định giữa ta và Pháp vì không tổng tuyển cử được. Chúng ta phải chấp nhận 21 năm chia cắt hai miền, năm 1975 mới thống nhất đất nước.

Câu thơ thứ 1975 là “Dẫu rằng sông cạn đá mòn”, ứng với câu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dù cho núi có mòn, sông có cạn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Câu này được Bác Hồ viết trong thư gửi đồng bào Nam Bộ đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 1/6/1946, khẳng định giá trị của chân lý, khẳng định tinh thần đoàn kết của dân tộc, bất chấp mọi khó khăn chia cắt, chúng ta nhất định “thắng lợi hoàn toàn”. Và điều đó diễn ra trong năm 1975.

tuc boi kieu.jpg -1
Tục bói Kiều là nét đẹp trong văn hóa tâm thức của người Việt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ngưỡng mộ Nguyễn Du và "Truyện Kiều". Trong một hội nghị người nhắc đến "Truyện Kiều" rồi trích câu thơ “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Người trích dẫn câu thơ nhằm nói đến một vấn đề trong hội nghị, nhưng vô tình lại ứng với tuổi thọ của người: 80. Người Việt khi nói đến tuổi thọ thường tính cả tuổi mụ. Vậy tuổi mụ của Bác khi người mất là 80. Câu thơ có thể luận ra: người mất chỉ mất về thể xác, còn tinh thần anh minh của người vẫn sống mãi mãi cùng dân tộc.

Từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dự báo Kiều, cũng có thể gọi là bói Kiều, đã khá phổ biến. Nhà văn Ngô Tất Tố đã đưa vào trong tiểu thuyết “Lều chõng”: Khi Vân Hạc đi thi, cô Ngọc là vợ muốn biết trước kết quả nên đã dùng “Truyện Kiều” để xem dự báo và được 4 câu:

Bỏ thân về với triều đình
Hàng thân lơ láo, phận mình ra đâu
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn, ra cúi công hầu mà chi?

“Cứ trong ý tứ mà suy” thì cô Ngọc biết chồng sẽ hỏng thi. Nếu như thi đậu sẽ làm quan, là người của triều đình, trái với ý của bốn câu thơ trên. Vân Hạc học giỏi, khi thi hỏng rất buồn, nhưng vợ không buồn và lựa lời an ủi chồng rằng chẳng qua vì cái số đã được báo trước trong “Truyện Kiều”.

Trong hồi ký của học giả Trần Trọng Kim có kể lại một chuyện liên quan tới dự báo Kiều. Năm 1944 vì sợ Pháp bắt mất một số người tin cậy của mình, Nhật đã bố trí cho Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, Trần Văn Ân, Đặng Văn Ký… “sơ tán” sang Singapore lánh nạn một thời gian. Ở Singapore các ông ăn uống quá kham khổ, thuốc thang không có, bệnh tật hoành hành nên ai cũng nôn nóng muốn trở về nước. Một hôm Dương Bá Trạc nói với mọi người rằng sắp được về rồi, mọi người hỏi nguồn tin ở đâu, ông Trạc chỉ vào hai câu Kiều vừa bói được:

Việc nhà đã tạm thong dong
Tĩnh kỳ giục giã đã mong độ về

Ông Kim cùng những người khác không tin, không ngờ ít ngày sau mọi người nhận được thông báo về nước thật, chỉ trừ ông Dương Bá Trạc đã “về” theo nghĩa khác, vì ông mất ở Singapore.

Tục bói Kiều còn tồn tại mãi trong đời sống văn hóa của người Việt. Chỉ cần có một cuốn “Truyện Kiều” trong tay. Ngồi ngay ngắn, nếu có điều kiện thắp thêm nén hương hoặc trầm cho thêm phần trang trọng, hai tay cung kính nâng sách lên ngang mặt, mắt khép nhẹ, thành tâm khẩn tấu, có thể khấn thành tiếng, có thể khấn thầm chỉ tâm mình biết: Chủ định chọn trước, theo luật: trai tay trái, gái tay phải.

Định thần an tĩnh, hít vào nhẹ sâu và thở ra nhẹ đều, ba lần, hạ sách xuống, dùng hai ngón tay cái mở sách ra. Ngón tay cái của bàn tay phải hay trái - đã chọn trước - mở ra trang nào, chỉ vào hàng nào thì từ đó tính xuống lấy bốn hàng làm quẻ nghiệm - tức hai cặp lục bát - sẽ là nội dung của lời dự báo.

Mỗi người, trong hoàn cảnh của mình, có thể tự thấy lời khuyên, tự giải dự báo qua ý nghĩa của đoạn thơ đối với việc mình thỉnh cầu bói Kiều cũng là một cách để người Việt thưởng thức những câu thơ tuyệt diệu của đại thi hào Nguyễn Du.

Lê Hoài Nam
.
.
.