Chuyện kể bên đỉnh Khau Cấn

Chủ Nhật, 08/02/2026, 08:20

Đỉnh núi Khau Cấn cao sừng sững như chạm tới mây trời bao đời nay giấu kín những bí ẩn huyền thoại về hành trình xây thành đắp lũy của anh em Chúa Bầu. Để rồi theo dòng chảy của thời gian, ngọn núi bồng bềnh mây trắng giữa đại ngàn hùng vĩ ấy soi bóng xuống dòng Nặm Luông thơ mộng, hòa vào trầm tích văn hóa được bồi tụ tự ngàn xưa như cất lên câu chuyện kể về vùng đất Mường Luông.

Mạch nguồn thành cổ

Vùng đất Nghĩa Đô (Lào Cai) là một thung lũng rộng và tuyệt đẹp, xưa kia có tên là Mường Luông, nơi anh em Chúa Bầu (Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật) từng đến đây xây thành đắp lũy, trong hành trình chinh phạt nhà Mạc, mở mang bờ cõi. Vì thế, nơi đây được xem là mạch nguồn của bức tường thành chạy dài từ Nghĩa Đô ra Phố Ràng, Bảo Yên do anh em Chúa Bầu khởi dựng, đến nay vẫn còn dấu tích. Sau khi sáp nhập địa danh hành chính, Nghĩa Đô vẫn được đặt tên cho xã mới và hợp thành bởi các xã Vĩnh Yên, Nghĩa Đô, Tân Tiến.

a12.jpg -0
Ngọn núi Khau Cấn cao sừng sững soi bóng xuống dòng Nặm Luông.

Bao bọc xung quanh thung lũng Nghĩa Đô là những đỉnh núi mang bao huyền thoại về quá trình chinh phục tự nhiên và dựng xây cuộc sống của cộng đồng dân tộc Tày. Ngọn núi Khau Choong, Khau Ái, Khau Rịa, Khau Cấn đại ngàn, soi bóng xuống dòng suối Nặm Luông, bốn mùa đưa dòng nước trong mát về với những bản làng Nghĩa Đô như Lằng Đáp, Nà Khương, Nà Mường, Bản Ràng, Thâm Mạ, Thâm Luông, Bản Rịa, Nặm Cằm, Bản Kem…

Bên bờ suối và những cánh đồng chao nghiêng cánh én lượn, những căn nhà truyền thống vững chãi bao đời nay là không gian quần tụ, sinh sống và hình thành nên những giá trị văn hóa bản địa của cư dân bản Tày. Ít ai biết rằng, trong lòng không gian ấy, từ bao đời nay đã hình thành, lưu giữ, trao truyền một kho trầm tích văn hóa vô cùng độc đáo và phong phú, nó gắn với cuộc mưu sinh của đồng bào Tày ở xứ sở này.

Dừng chân ở bản Rịa, dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, bạt ngàn lau nứa, bên căn nhà sàn mộc mạc, chúng tôi gặp nghệ nhân ưu tú Ma Thanh Sợi (dân tộc Tày, sinh năm 1944), ông nguyên là Chủ tịch UBND xã Nghĩa Đô, là người sinh ra và lớn lên trong lòng bản Tày.

Trong trí nhớ thông tỏ, minh mẫn của tuổi 80, nghệ nhân Ma Thanh Sợi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về lịch sử vùng đất Nghĩa Đô tự ngàn xưa và hành trình ông đi tìm lại, ghi chép, tổng hợp những di sản văn hóa của vùng đất này.

Ông kể rằng, vào khoảng thế kỷ 14, 15, có một nhóm người dân tộc Tày từ vùng đất Hà Giang sang Mường Luông để lập nghiệp, sinh sống, lâu dần sinh con đẻ cái mà thành bản, thành làng. Bước sang thế kỷ thứ 16, anh em nhà tướng Vũ Công Mật, Vũ Công Uyên (Chúa Bầu) quê ở Hải Dương được vua Lê cử lên trấn ải, khai phá vùng này, những người Kinh theo Chúa Bầu lên xây dựng, khi phủ chúa rút, một phần họ ở lại vùng này luôn, tạo thành dân gốc, bên cạnh người Tày, cùng mở mang, phát triển, lập thành nhiều khu dân cư mới, nhiều thôn bản mới.

a2.jpg -1
Dệt vải là nghề truyền thống của đồng bào Tày Nghĩa Đô.

Dấu tích Chúa Bầu xây thành đắp lũy vẫn còn lưu dấu trên đỉnh núi Khau Cấn và vòng quanh thung lũng Nghĩa Đô. Trầm ngâm trong giọng kể đượm màu thời gian, nghệ nhân Ma Thanh Sợi trở lại giới thiệu về kho trầm tích văn hóa của Nghĩa Đô, báu vật mà từ bao đời nay, cư dân bản Tày ở xứ sở này hình thành, sáng tạo, lưu giữ và trao truyền qua bao thế hệ, tài sản vô giá mà ông Ma Thanh Sợi ngày đêm đau đáu dấn thân sưu tầm, gìn giữ.

Theo lời kể của nghệ nhân ưu tú của bản Tày, di sản văn hóa của vùng đất Nghĩa Đô rất độc đáo, đa dạng và có nguồn gốc bản địa. Bản sắc văn hóa ấy được hình thành từ xa xưa, gắn liền cuộc mưu sinh vô cùng gian khó của cư dân Tày. Đó là văn hóa gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng như làm nhà sàn, cưới hỏi, sinh đẻ, ma chay, dệt thổ cẩm, đan lát, các bài thuốc dân gian, chợ phiên, trang phục, ẩm thực, hát Then, hát khắp, hát yếu, nghi lễ Then, các lễ Tết trong năm…

Bên cạnh đó, vùng đất này còn lưu giữ kho tàng văn học dân gian như truyện cổ, tục ngữ, câu đố… cùng với các lễ hội và trò chơi dân gian như hội chơi xuân, hội xuống đồng, lễ mừng cơm mới, lễ gánh nước thiêng, lễ hội đền Nghĩa Đô, ném pao, bắn nỏ, đánh yến, đi cà kheo… Những di sản mang đậm dấu ấn thời gian và lời ăn tiếng nói của đồng bào Tày Nghĩa Đô đã trở thành một phần máu thịt không thể thiếu và mất đi của vùng đất này.

a5.jpg -2
Các trò chơi dân gian được tổ chức vào các dịp lễ hội ở Nghĩa Đô.

Nghệ nhân Ma Thanh Sợi chia sẻ rằng: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, còn văn hóa là còn tất cả, vì thế, cần phải gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau”. Chính vì lẽ đó cộng với ý thức, trách nhiệm và sự tâm huyết của một người con sinh ra và lớn lên trong lòng bản Tày, trong những năm qua, nghệ nhân Sợi đã miệt mài ngày đêm tập hợp, hình thành được cuốn tài liệu với trên 3.000 trang viết tay, hàng ngàn trang viết đánh máy, xuất bản được 5 đầu sách nghiên cứu về văn hóa, phong tục, nghề dệt thổ cẩm của người Tày ở Nghĩa Đô.

Ngoài ra, ông Sợi còn phối hợp với các cơ quan chức năng về bảo tồn văn hóa của tỉnh xây dựng các tài liệu về nghi lễ Then Tày, sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu khoảng 50 chuyên đề chuyên sâu về văn hóa dân tộc Tày xã Nghĩa Đô; tích cực tham gia truyền dạy bản sắc văn hóa Tày Nghĩa Đô tại các lớp tập huấn, bồi dưỡng về văn hóa được xã, tỉnh tổ chức tại địa phương và các trường học.

Ông được dân bản xem như “truyền nhân” văn hóa của quê hương xứ sở. Đi đến đâu, dân bản đều rất kính trọng ông và luôn coi ông là điểm tựa cho việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của địa phương.

Miền đất của “ngũ cực”

Trải qua gần 5 năm hình thành và phát triển dịch vụ du lịch gắn với văn hóa truyền thống, vùng đất Nghĩa Đô đã và đang gặt hái được những trái ngọt đầu mùa. Với hệ thống gần 30 căn nhà sàn được sử dụng làm dịch vụ homestay đã và đang thu hút, trở thành điểm đến của hàng ngàn du khách trong và ngoài nước.

Với không gian thoáng mát hòa vào vẻ đẹp hoang sơ thơ mộng của thiên nhiên núi rừng, sự độc đáo của những nét văn hóa truyền thống đã mang đến cho du khách một sự thư thái, một không gian trải nghiệm hấp dẫn, độc đáo.

Nơi đây được mệnh danh là điểm đến trải nghiệm “Ngũ cực” khi du khách dừng chân, đó là “Cực đẹp, cực xanh, cực sạch, cực hay, cực ngon”. Vì thế, nơi đây vẫn được biết đến là nơi “Suối sạch, đồng xanh” của biết bao du khách, một “Tây Bắc thu nhỏ” trong bức tranh muôn màu của xứ sở Tây Bắc.

Theo dòng chảy của thời gian, những thành tựu văn hóa của Nghĩa Đô không bị mất đi mà ngày càng được bồi đắp, làm giàu thêm bản sắc và trở thành một tài sản tinh thần vô giá được bảo lưu trong tâm hồn, ý chí và tình yêu quê hương xứ sở của con người nơi đây.

Trong cuộc sống hôm nay và mai sau, mỗi người dân Nghĩa Đô dù sinh sống trên chính quê hương mình hay ở nơi chân trời góc bể luôn lưu giữ trong tâm hồn mình niềm tự hào về quê hương và luôn nhắc nhớ mỗi người không ngừng bồi đắp, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của kho trầm tích trong giai đoạn hiện nay. Đó chính là những yếu tố quan trọng để cho kho trầm tích văn hóa dưới chân đỉnh Khau Cấn như một mạch nguồn chảy mãi.

Nguyễn Thế Lượng
.
.
.