Trao đổi

Thúng nào mới xứng với u?

Thứ Hai, 17/06/2013, 08:00
Với cảm nhận tinh tế của một nhà thơ về cái đẹp, ông Quốc Toàn đã rất đúng khi cho rằng cái thúng "u tôi" cắp trong bài thơ không phải là cái thúng to. Cái thúng to hữu ích này cũng rất đẹp khi nó gắn với khung cảnh lao động vất vả nhưng tươi vui, chẳng hạn như khi "Thúng đầy, anh gánh em gồng/ Kĩu cà kĩu kịt qua sông qua đò" trong bài hát của Lê Lôi. Nhưng trong buổi đầu xuân, "u tôi" đưa các con về thăm quê ngoại, ăn mặc rất diêm dúa "Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu" mà ông Toán cứ nhất định bắt "u" mang cái thúng to thô kệch kia thì khổ cho "u" quá.

Bài thơ "Đường về quê mẹ" của cụ Đoàn Văn Cừ ra mắt độc giả đã trên 70 năm nay. Thế mà đến tháng 5/2013 này, cái thúng hiền lành trong khổ thơ: "Thúng cắp bên hông nón đội đầu/ Khuyên vàng yếm thắm, áo the nâu/ Trông u chẳng khác thời con gái/ Mắt sáng, môi hồng, má đỏ au" (bài "Đường về quê mẹ") ít nhiều đã liên quan tới bốn "nhà". Trước hết là nhà thơ Quốc Toàn "dứt khoát" cho rằng cái thúng ấy không phải là loại thúng to đựng thóc gạo mà là thúng đựng trầu, đồ khâu vá, rồi lại tỏ ra thiếu "dứt khoát" khi đặt câu hỏi "… có phải thế không anh Bao?". Thế là nhà thơ Nguyễn Bao trở thành người liên đới thứ hai (xem bài "Tài năng dịch thuật của thi sĩ đồng quê Đoàn Văn Cừ" của tác giả Thúy Toàn, Văn nghệ Công an số ra ngày 6/5/2013). Và nhà văn Thúy Toàn, người kể lại chuyện này là người thứ ba. Dù khi kể lại câu chuyện, tác giả Thúy Toàn không cho bạn đọc biết ông Bao trả lời thế nào. Về phần mình, ông cũng chẳng cho biết ý kiến về đối tượng "thúng" này. Một "nghi vấn" được thiết lập và người thứ tư, tác giả Đặng Toán phải "vào cuộc" (với bài viết "Cái thúng là cái thúng nào?" in trên Văn nghệ Công an số ra ngày 20/5/2013). Rồi đến hôm nay lại có người thứ năm là "nhà ngoại đạo" tôi đây cũng liều mình nhảy vào "trường văn trận bút" múa mấy "chiêu mèo quào", dẫu có thế nào cũng chẳng ngại vì là dân "ngoại đạo". Có gì sai sót mong bạn đọc Báo Văn nghệ Công an và ông Toán lượng thứ, chỉ bảo thêm cho.

Với cảm nhận tinh tế của một nhà thơ về cái đẹp, ông Quốc Toàn đã rất đúng khi cho rằng cái thúng "u tôi" cắp trong bài thơ không phải là cái thúng to. Cái thúng to hữu ích này cũng rất đẹp khi nó gắn với khung cảnh lao động vất vả nhưng tươi vui, chẳng hạn như khi "Thúng đầy, anh gánh em gồng/ Kĩu cà kĩu kịt qua sông qua đò" trong bài hát của Lê Lôi. Nhưng trong buổi đầu xuân, "u tôi" đưa các con về thăm quê ngoại, ăn mặc rất diêm dúa "Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu" mà ông Toán cứ nhất định bắt "u" mang cái thúng to thô kệch kia thì khổ cho "u" quá. Với lại khi mang một cái thúng to, dù không đựng gì thì người ta khoác một bên vai; khi thúng đựng ít đồ vật thì người ta đội, chứ cắp cái thúng to, tay dang hết cỡ, kềnh kệnh một bên sườn thì vướng lắm, không đi xa được đâu. Vị nào không tin cứ thử mà xem. Nhưng ông Quốc Toàn đã không thực tế (tôi đoán rằng ông ít sống ở nông thôn) khi ông phân loại thúng theo cái thứ nó đựng. Đã là cái thúng thì đựng cái gì là tùy thuộc ở người chủ, miễn sao tiện lợi. Chẳng lẽ mang một thúng khoai ra chợ bán với ý định bán xong có tiền thì mua trầu cau, rau, chè tươi... người ta lại phải mang theo mấy đồ đựng riêng từng thứ đó sao. Tất nhiên, mọi thứ mua được sẽ xếp vào cái thúng đã hết khoai. Tôi xin được về "phe" với ông Toán ở điểm này.

Vậy thì cái thúng nào mới xứng với hình ảnh rất đẹp "Thúng cắp bên hông nón đội đầu" trong câu thơ của cụ Đoàn Văn Cừ? Xin thưa: Ngày trước, đi chợ đong gạo, các bà, các chị ở nông thôn ta mang theo một cái thúng nhỏ, gọn, đựng "cắn cạp" được khoảng 5-6 kg gạo, cùng một cái đấu của nhà. Tới hàng gạo, trước hết phải "khảo" giá gạo đã. Người bán dùng đấu nhà hàng đong mấy đấu vào cái thúng con của người mua và ra giá. Đến lượt mình, người mua dùng đấu của nhà "khảo" lại chỗ gạo ấy rồi nhẩm tính xem như vậy là "kém" (đắt) hay "hơn" (rẻ), có khi "khảo" mấy hàng mới quyết định đong. Cái thúng con ấy được đặt tên là "thúng khảo". Rồi vì nó gọn, nó xinh, rất tiện khi đi đâu mà các thứ cần mang không nhiều như lên chùa, trảy hội, thăm thân... nên mặc nhiên nó được dùng vào các việc ấy, trong khi vẫn mang tên "thúng khảo". Thế là nó được săn sóc kỹ lưỡng hơn, từng cái nan được trau chuốt thật đều, thật nhẵn, đan thật khít, cải hoa thật nền, cạp thật tròn, nức mây thật chặt, thật khéo... trở thành một đồ mỹ nghệ, một thứ trang sức gần như không thể thiếu của các bà, các chị ngày trước. Tôi dám quyết rằng chỉ cái "thúng khảo" ấy mới xứng để "u tôi" cắp theo khi về chơi quê ngoại. Đó cũng là cái thúng để: "Ba cô đội gạo lên chùa"...

Tôi còn có thể "bắt bẻ" ông Quốc Toàn về chuyện đựng trầu cau, đồ khâu vá trong thúng; bắt bẻ ông Đặng Toán về chuyện gọi cái hộp trầu là cái cơi trầu. Nhưng thế thì lạc đề xa quá

Bạch Hữu Ngọc
.
.
.