Thơ bắt đầu từ cổng làng
Cách đây hơn chục năm, khi còn đang công tác ở Hội Văn học Nghệ thuật Hải Hưng, tôi đã nhận được những bản thảo thơ của Nguyễn Thành Tuấn gửi đăng tạp chí Văn nghệ của Hội. Lúc đó, anh đã từ bộ đội đóng quân ở biên giới Cao Bằng về học Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong những bài thơ anh gửi, tôi nhớ có hai bài mà tôi chọn đăng là "Kìa con trâu ngây thơ" và "Quà cho nhái đồng".
Thực ra, trước đó dăm năm, vào những năm cuối thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, Nguyễn Thành Tuấn đã đăng thơ ở tạp chí Văn nghệ Hải Hưng rồi. Nhưng khi ấy tôi chưa về công tác ở hội. Nhận được chùm thơ của Nguyễn Thành Tuấn, tôi rất mừng. Những bài thơ này của anh tuy chưa thật hay, nhưng nó giản dị, trong sáng và có hồn. Chất thi sĩ và chất đồng quê khá rõ. Bài "Kìa con trâu ngây thơ" nhẹ nhàng mà tinh tế, nhưng cũng gợi sự bâng khuâng nhung nhớ tuổi thơ:
Chiều nay tôi vô tình
dừng trước trang sách nhỏ
cánh chuồn ngô giật mình
vút ngang vầng dương đỏ.Quân phục còn xanh thế
mà bỗng thành bơ vơ
đồng cỏ ơi đồng cỏ
biết đứng đâu bây giờ.Chỉ thương bông cúc dại
đang tơi bời thế kia
chỉ thương quầng ráng đỏ
đang bùng lên bất ngờKìa con trâu ngây thơ
nghiêng sừng cười nghé ọ
mảnh diều nào no gió
dùng dắng giữa bao la.
Khi tỉnh Hưng Yên tái lập, Nguyễn Thành Tuấn về làm việc ở Báo Hưng Yên. Mùa thu năm 1997, tôi chuyển công tác lên Hà Nội. Anh đã gửi chia tay tôi một bài thơ thật xúc động.
Sự hòa quyện giữa ý tưởng, tình cảm bằng những hình tượng thơ khá nhuần nhuyễn. Đây là một bài thơ hay, đã được chọn đăng ở dăm ba tuyển tập thơ của các nhà xuất bản trung ương. Tất nhiên, từ hoàn cảnh cụ thể khi bài thơ ra đời mà nó có sức sống nói về những cuộc chia tay của người từ làng quê ra thành phố, có sức gợi khá sâu sắc, thấm thía:
Người xa Phố Hiến mùa mưa
con đường hun hút, gió lùa hàng cây
một mình ta giữa mưa bay
chiếc ô lệch cả sang ngày bên nhau.Bao giờ về chợ Quảng Châu
lân la mặc cả giá trầu cũng say
bao giờ lại khúc đê này
cưỡi trâu mà hát với cây ngô đồng.Tuổi thơ hát với cơn giông
nón sen thơm ngát quãng đồng nhà quê
chao ôi cái phố ven đê
khi xa thì nhớ khi về lại thương.Rồi mai son phấn phố phường
có còn hàng nhãn con đường hôm nay
người đi giữa lúc mưa bay
ta chờ khoảng nắng nối dây cánh diều.
Tôi thích câu thơ cuối, Nguyễn Thành Tuấn ẩn ý nói về sự mong đợi tin tưởng của anh đối với con đường văn chương tiếp theo của tôi, bởi hình ảnh cánh diều gợi đến tập phê bình tiểu luận văn chương "Cánh diều và mặt đất", tác phẩm đầu tay của tôi, tác phẩm tôi được Giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, cũng là tác phẩm đưa tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhưng tôi vẫn phải thừa nhận câu thơ nói trực tiếp về sự chia tay bằng hình ảnh độc đáo "một mình ta giữa mưa bay/ chiếc ô lệch cả sang ngày bên nhau" mới là một câu thơ tài hoa. Câu thơ này khẳng định vị thế của thi sĩ Nguyễn Thành Tuấn.
Nguyễn Thành Tuấn sinh ra và lớn lên ở làng quê. Mười năm qua anh cũng trưởng thành trên quê hương Hưng Yên. Cuộc sống, con người và phong cảnh quê hương đã rung động trái tim thi sĩ của anh và đã được anh thể hiện khá rõ trong những bài thơ của mình.
Nguyễn Thành Tuấn có khoảng chục bài thơ viết về làng quê có chất lượng khá. Một số bài tiêu biểu như "Nhớ Trung thu thơ ấu", "Đường làng", "Anh tôi ở quê", "Cây gạo", "Ký ức làng"... Tôi muốn cùng mọi người đọc lại bài thơ "Ký ức làng" để nhớ lại và suy ngẫm về tuổi thơ và về quê hương:
Làng ta có Đống Nghiên, Gò Bút...
ai tường long mạch sẽ vinh hoa,
có cánh Dộc Le gieo một vụ
tay nải đi tứ xứ tháng ba.Làng ta có miếu thờ quan trạng
từ chối con vua chốn kinh kỳ
(biết vợ đang chờ bên khung cửi)
dân làng náo nức buổi vinh quy.Làng ta có ma trên cầu đá
ời ợi ru con những trăng suông
có ma đổ đó đêm đồng Mụa
(vất vả như người những gió sương).Giấu đi gốc gác ngày đô thị
mùi đất đồng chiêm thức mỗi đêm
thương miếng khoai vùi ngày trọ học
khát khúc sông trong thuở tắm truồng.Chưa góp được gì cho đất tổ
tóc sắp nở hoa giữa xuân sang
cái ngày danh lợi tan mây khói
ta ở đâu trong ký ức làng?
Cuối năm ngoái tôi thấy Nguyễn Thành Tuấn về quê góp phần tổ chức xây Văn chỉ của làng. Vừa rồi lại thấy anh về quê tổ chức cho lễ đón hai tiến sĩ về làng báo cáo với dân làng những gì mình đã làm được khi xa quê (mà thực chất là khôi phục lại lễ "Vinh quy bái tổ"), thì tôi thấy được gốc gác những bài thơ của anh.
Phải chăng câu hỏi "ta ở đâu trong ký ức làng?" luôn thường trực trong tâm trí anh! Có được câu hỏi ấy phải do tình yêu của anh, tình yêu một cách tự nhiên và anh đã chuyền điều này cho các con của mình: "Bố dắt con ra đường làng / cho con nhận từng viên gạch ....... nào ta về thôi con gái/ ngoài kia sông nước mênh mang/ lớn lên rồi con bước tiếp/ bắt đầu từ đây, cổng làng" (Đường làng).--PageBreak--
Từ cổng làng anh đã đi đến nhiều miền đất nước. Một trong những vùng đất ấy là vùng núi phía Bắc của Tổ quốc. Những năm tháng sống trong quân ngũ anh đã làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương ở Cao Bằng. Tuy vùng núi Cao Bằng - Hà Giang - Lạng Sơn chưa phải là quê hương văn học thứ hai của anh, nhưng tôi thấy thơ anh đã trở đi trở lại vùng đất này khá nhiều, qua loạt bài: "Bạn ngược Hà Tuyên", "Nhớ Cao Bằng", "Lời ru ở Cao Bằng", "Trái tim vùng cao", "Mây Mẫu Sơn", "Với mùa xuân Hà Giang", "Trở lại Sà Phìn"...
Mảng thơ này của anh khỏe khoắn, có gì uy nghiêm, có gì cương trực, kể cả khi nói về tình người, tình yêu:
Vẫn lều quán thông thênh gió núi
những mặt bàn kèo cột quánh đen
vẫn rượu rót ắp tràn dãy bát
những mặt người thoáng đã thân quen.........
Nào nâng bát cho núi nghiêng xuống đáy
cho xù xì ngực đá đẫm hơi men
nhà họ Vương khuất trong bóng tối
hương rượu ngô tinh khiết sáng lên.Nào nâng bát cho núi vươn sừng sững
rằng nơi đây mãi tuổi hai mươi
nào cạn bát lắng nghe vó ngựa
rằng nơi đây hành động quý hơn lời...
(Trở lại Sà Phìn)
Những năm gần đây, cùng với không khí đổi mới của thơ cả nước, Nguyễn Thành Tuấn cũng đổi mới thơ của mình. Cuộc đổi mới thơ trên thi đàn Việt Nam gần đây chưa mấy thành công và phải nói nhiều tác giả đã thất bại. Có ai dại dột để đi chê thơ đổi mới khi không khí đổi mới đang xốc tới hừng hực, có khi nghiêng tới 180 độ.
Nhưng tôi thấy, thơ Đường đã thịnh hành mấy trăm năm và đến nay vẫn còn tỏa bóng, thì cớ sao Thơ Mới của ta mới có mấy chục năm mà nhất quyết cứ phải đổi bỏ hẳn đi? Sao không từ Thơ Mới mà phát triển lên, hoặc đổi mới từ cội nguồn Thơ Mới?
Đành rằng, nhà thơ là phải luôn sáng tạo, phải luôn làm mới mình. Nhưng sự tự làm mới của mỗi thi sĩ khác với sự cách tân thi pháp của cả nền thơ. Đây là một việc lớn cần phải thận trọng, với tinh thần trách nhiệm cao của mỗi nhà thơ và nhà phê bình thơ. Thi pháp mới chưa xuất hiện, mà đã đòi vứt bỏ thi pháp cũ, thì sẽ dẫn tới hỗn loạn sinh ra những quái thai, kỳ quặc.
Nhiều cây bút thơ đổi mới nay đã thấy mệt mỏi vì không ghi nhận được thành công gì ngoài sự khác lạ về hình thức, giống như thay áo xanh bằng áo đỏ, thay áo một màu bằng áo nhiều màu mà thôi. Riêng tôi thì cho rằng không cần gì phải đi tìm. Nếu có một thi pháp thơ mới thì tự nó sẽ đến, đến từ mỗi thi sĩ và đến với cả nền thơ. Nghệ thuật là tự nhiên của "thợ trời", còn cái mà phải đi tìm, phải hô hào thì chỉ là của "thợ vẽ". Đấy không phải là nghệ thuật đích thực.
Thi pháp của nền thơ là do "thợ trời" chi phối, chứ không phải do mấy anh "thợ vẽ". Nguyễn Thành Tuấn cũng có hàng chục bài thơ đổi mới, nhưng không có bài nào thật ấn tượng. Gần đây anh tâm sự với tôi, khẳng định giá trị của thơ theo thi pháp truyền thống. Trước đây, tôi đã không khuyến khích anh đổi mới, thì nay tôi cũng không khuyến khích anh quay trở lại. Mỗi nhà thơ, bằng tài năng của mình hãy tự khẳng định. Đổi mới hay truyền thống thì đích đến vẫn phải là "hay".
Có một bài thơ đổi mới của Nguyễn Thành Tuấn mà tôi thấy khá thành công là bài "Phóng túng sông Hồng". Phải chăng thành công vì anh đổi mới trên nền truyền thống:
Chẳng còn ai giấu mình trong cát
anh vẫn đưa em xuôi sóng sông Hồng
chiều cuối năm sương giăng bến nước
một cánh chim đáp ấm bờ sông.Chử Đồng Tử không cam chờ may rủi
lập những làng hoa trù phú Hưng Yên
cả anh nữa cũng đã quên cổ tích
nếu chẳng gặp cánh buồm em thả thuở sinh viên.Thì ta vẫn ghé vào bờ cát
kìa một vùng rau khúc xanh mơ
ơi rau khúc nở xa xưa giáp hạt
lại nở bây giờ cho khúc hoang sơ.Và em vẫn có quyền cởi áo
trút dưới chân trần tất cả những mùa đông
giọt nước đầu tiên từ vai em lăn xuống
bật chồi xuân khắp châu thổ sông Hồng.
Hình tượng thơ gần với cuộc sống mà vẫn hư ảo, lãng mạn. Không có cuộc sống thì không có thơ. Nhưng không có hư ảo, lãng mạn thì lại càng không có thơ nữa. Mừng là thơ Nguyễn Thành Tuấn dù đổi mới hay không đổi mới vẫn luôn có cả hai thứ ấy.
29/7/2007
