Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Thế Lữ (6/10/1907 – 6/10/2007):

Thế Lữ trong ký ức Huy Cận

Thứ Hai, 22/10/2007, 08:50
Tình bạn ở buổi đầu sáng tác của các nhà văn tài danh góp phần mở đầu văn học Việt Nam hiện đại - trong đó có các nhà thơ, nhà văn trong phong trào Thơ Mới, ở trong và ngoài Tự lực văn đoàn - từng để lại nhiều kỷ niệm đẹp và thiêng liêng.

Thế Lữ (1907 - 1989), nhà thơ góp phần chủ yếu mở đầu phong trào Thơ Mới, cũng là nhà thơ tiêu biểu, xuất sắc nhất của Thơ Mới buổi đầu, thành viên chủ chốt của Tự lực Văn đoàn, cũng được nhiều bạn văn như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Xuân Sanh… kính nể, yêu mến.

Hai năm 2003 và 2004, nhân tìm hiểu và viết về cuộc đời và văn nghiệp của Thế Lữ, tôi đã xin gặp nhà thơ Huy Cận (1919 - 2005) để hỏi chuyện. Năm nay, nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Thế Lữ (6/10/1907 – 6/10/2007), nhớ lại những lời kể của Huy Cận trước ngày nhà thơ mất vài năm, tôi có cảm giác như Huy Cận đang hiển hiện trước mặt tôi, giọng nói đầm ấm, rành rọt rót vào tai tôi.

Hôm ấy, sách “Hồi ký song đôi” 2 tập của Huy Cận (NXB Hội Nhà văn, 2005) cũng đã xuất bản, tuy nhiên nội dung mục “Tìm gặp Thế Lữ ở hội chợ Huế” in ở tập 2 đã đến với tôi từ trước. Huy Cận viết về cuộc đón tìm Thế Lữ rất thú vị.

Lời khen tặng của Tự lực văn đoàn trao cho tác phẩm được giải thưởng văn học hằng năm. Bên dưới có chữ ký của nhà thơ Thế Lữ. 

Hồi ấy, Huy Cận và những nhà thơ khác xuất hiện sau Thế Lữ đều rất ngưỡng mộ Thế Lữ, coi Thế Lữ không chỉ là bậc trên về tuổi tác mà còn là đàn anh về tài năng và nghiệp văn.

Bởi vậy, khi được một nhà văn thế hệ đàn em gợi hỏi về thời thanh xuân của mình, cũng là buổi ban mai của thơ văn hiện đại nước nhà, gợi hỏi về Thế Lữ, Huy Cận tỏ ra phấn khích, nét mặt ông rạng rỡ hẳn ra.

Ông kể: “Vào năm 1934, tôi đang học năm thứ ba trường Quốc học Huế thì được tin Thế Lữ vào Hội chợ Huế. Tôi và Nguyễn Xuân Sanh tìm gặp Thế Lữ ở hội chợ ấy. Khi ấy tôi chưa có thơ đăng. Thế Lữ chuyện trò chan hòa, niềm nở, không có vẻ gì là đàn anh. Tôi và Nguyễn Xuân Sanh nói với anh rằng chúng tôi và nhiều bạn đọc, bạn viết rất mê thơ anh. Thế Lữ chỉ im lặng. Rồi anh hỏi chúng tôi có làm thơ không. Nghe chúng tôi e dè tâm sự, Thế Lữ nói lời khích lệ chân thành.

Bài thơ đầu tiên trong đời sáng tác của tôi được đăng trên báo Tràng An ở Huế, do anh Hoài Thanh làm chủ biên. Đó là bài thơ nói về “cuộc đời lý tưởng”, có ảnh hưởng một chút thơ của Thế Lữ. Thế Lữ có những câu thơ thế này: “Tôi muốn đi bên cạnh cuộc sống/ Trăm năm theo dõi đám mây chơi”.

Tôi với Xuân Diệu kết bạn ở Trường tú tài Khải Định, Huế (tức Trường Quốc học) vào tháng 9 năm 1936. Lúc bấy giờ, Xuân Diệu đã học xong tú tài phần thứ nhất ở Trường Bưởi, Hà Nội và về học tiếp ở Trường Khải Định.

Sau đó, Xuân Diệu ra Hà Nội học Trường Luật, còn tôi ở lại học năm thứ hai. Tôi gửi bài thơ “Chiều xưa” ra cho anh ấy. Xuân Diệu không trực tiếp đem bài thơ đến tòa soạn báo Ngày nay, mà gửi qua đường bưu điện.

Vài hôm sau Thế Lữ gặp Xuân Diệu bảo: “Vừa rồi tôi nhận được bài thơ hay quá. Không biết cái cậu này ở đâu”. Rồi Thế Lữ đọc:

Buồn gieo theo gió veo hồ
Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa
Đồn xa quằn quại bóng cờ,
Phất phơ hồn tự thời xưa thổi về
Ngàn năm sực tỉnh, lê thê
Trên thành son nhạt - Chiều tê cúi đầu...
Bờ tre rung động trống chầu
Tưởng chừng còn vọng trên lầu ải quan
Đêm mơ lay ánh trăng tàn
Hồn xưa gửi tiếng thời gian, trống dồn

Xuân Diệu khoe: “Đó là anh bạn tôi ở Huế đấy”. Thế Lữ trách Xuân Diệu: “Tại sao anh không đưa đến tòa soạn mà lại gửi qua bưu điện?”. Xuân Diệu cười: “Tôi muốn xem thử bài thơ có đúng là hay không đấy mà”.

Và bài thơ ấy đã được đăng ngay trên báo Ngày nay, số Tết Mậu Dần tháng 1 năm 1938, cùng một khung với bài “Cảm xúc” của Xuân Diệu. Đó là bài thơ đầu tiên của tôi được đăng trên báo Ngày nay của Tự lực văn đoàn.

Tết năm ấy, Xuân Diệu đánh điện mời tôi ra Hà Nội chơi, rồi anh dẫn tôi đến báo Ngày nay. Tại buổi gặp gỡ đáng nhớ ấy, nhất trí với nhà thơ Thế Lữ, hai nhà văn Khái Hưng và Nhất Linh cũng cho rằng “Chiều xưa” của Huy Cận là bài thơ hay.--PageBreak--

Thời gian Thế Lữ làm ở báo Ngày nay, tôi gặp Thế Lữ thường xuyên. Chúng tôi hay bàn về thơ, về dịch thơ của Tản Đà. Cả hai đều cho rằng Tản Đà dịch thơ Đường hay, nhưng thơ của chính Tản Đà thì có bài được bài không. Tản Đà thấm đượm hồn thơ Đường cho nên ông dịch hay.

Khi bài thơ “Ngậm ngùi” của tôi được công bố, gặp tôi ở dốc Yên Phụ, Thế Lữ khen, rồi đọc lại cả bài. Thế Lữ bảo bài thơ hay vì có cái tình đằm thắm (Lòng anh mở với quạt này/ Trăm con chim mộng về bay đầu giường). Thế Lữ rất thích thơ lục bát của Huy Cận như các bài “Chiều xưa”, “Ngậm ngùi”, “Buồn đêm mưa” và các bài khác.

Thế Lữ là người trọng tài năng, ông có công phát hiện tài năng mới phát lộ. Ông không hề có lòng ghen tài. Trên báo Ngày nay số Tết năm 1937, Thế Lữ giới thiệu thơ Xuân Diệu trang trọng, khi đó Xuân Diệu đang học năm thứ 3 tú tài, còn tôi thì năm thứ nhất.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng chúc tết văn nghệ sĩ xuân 1973. Nhà thơ Thế Lữ ngoài cùng.

Sau khi Huy Cận hồi tưởng những kỷ niệm riêng khá đằm thắm và sâu sắc với Thế Lữ, tôi lại khẩn trương hỏi ông thêm: “Thưa anh, người ta hay nhận định rằng: “Thơ Thế Lữ thiên về trong trẻo, mơ màng, thể hiện rõ nhất chất lãng mạn nguyên sơ. Còn sau này, thơ Xuân Diệu, Huy Cận đi sâu hơn vào đời sống trần thế, vào tình người”.

Huy Cận đáp lời tôi bằng một ý kiến của riêng ông: “Thơ Thế Lữ chưa đi sâu vào chủ nghĩa nhân bản. Tình ý còn bàng bạc. Thơ tôi và Xuân Diệu đi vào đời hơn, vào nhân thế, giàu chất nhân bản hơn. “Nghe đàn nguyệt trên sông Hương”, “Bên sông đưa khách”, “Đời thái bình”, “Lời than thở của nàng mỹ thuật”, “Giục hồn thơ”, “Mưa hoa” (bài “Mưa hoa” viết theo kiểu “Bích câu kỳ ngộ”) là những bài thơ hay của Thế Lữ. Bài “Cây đàn muôn điệu” được nhiều người nhắc tới, nhưng theo tôi hay vừa thôi”.

Tôi chợt nhớ lại vào dịp kỷ niệm 60 năm phong trào Thơ Mới, Giáo sư Hà Minh Đức đã mời một số nhà thơ, nhà phê bình am hiểu và có phần đóng góp cho phong trào Thơ Mới chọn lựa khoảng mười bài thơ hay nhất.

Nhà thơ Huy Cận chọn của Thế Lữ bài “Bên sông đưa khách”, trong khi các nhà thơ khác chọn các bài quen thuộc là “Nhớ rừng”, “Tiếng sáo thiên thai”, “Cây đàn muôn điệu”. Tôi nhắc sự kiện này.

Sau giây lát trầm ngâm, nhà thơ nhìn thẳng vào tôi: “Tôi chọn bài thơ ấy vì nó hay. Người ta chọn “Nhớ rừng” vì cho rằng bài thơ ấy thể hiện lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý nghĩa tiến bộ về chính trị. Về nghệ thuật thơ thì “Nhớ rừng” chưa hẳn là bài hay nhất của Thế Lữ. Chọn “Tiếng sáo thiên thai” cũng được, vì đó là bài thơ lục bát đọc được, nhưng tôi thích bài “Bên sông đưa khách” hơn”.

Như chúng ta đã biết, sau năm 1945 cho đến cuối đời, Thế Lữ rất ít làm thơ, ông dồn thời gian và tâm sức vào nghệ thuật sân khấu. Ông trở thành người anh cả của sân khấu Việt Nam người thầy của giới biểu diễn kịch nói Việt Nam.

Tôi lại tò mò hỏi thêm về mối quan hệ giữa Huy Cận và Thế Lữ trong mấy chục năm trở lại đây thì được biết vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi soạn xong tập thơ “Cô gái Mèo” (ban đầu có tên là “Làm người”), Huy Cận đọc cho Thế Lữ nghe trước khi in. Thế Lữ thích thú, tỏ ra rất đồng cảm với tập thơ và với tác giả. Thế Lữ bèn tặng Huy Cận tập kịch bản sân khấu của Claudel, một nhà thơ lớn người Pháp. Ông ghi dòng chữ: “Thân tặng tác giả “Làm người”.”

Sau năm 1975, mỗi lần vào TP HCM, Huy Cận đều đến thăm Thế Lữ. Về cuối đời, Thế Lữ đau yếu nhiều. Huy Cận luôn luôn nhớ Thế Lữ vì:

Cái thuở ban đầu Thơ Mới ấy
Nghìn năm chưa dễ đã ai quên

.
.
.