Phố Hiến vào văn

Thứ Sáu, 10/04/2009, 11:00
Văn chương là một hình thái ý thức phản ánh hiện thực cuộc sống. Nên ở đâu có cảnh có người thì ở đấy có thơ văn. Chưa hẳn ở đâu đông người thì ở đấy có nhiều văn thơ, nhưng rõ ràng ở những nơi danh thắng, những miền đất nổi tiếng thường có sức hút mọi người, đặc biệt là những văn nghệ sĩ - những người rất nhạy cảm với cái đẹp, do đó ở đấy thường có nhiều thơ văn ngợi ca. Phố Hiến là một trong những địa danh như thế.

Nói đến văn chương Phố Hiến, trước hết phải nói đến những sáng tác dân gian. Đến nay vẫn có hàng trăm câu ca dao, nhiều chục truyện dân gian lưu truyền trong nhân dân Phố Hiến xưa và vùng dân lân cận. Mỗi câu ca chứa một nội dung riêng, mang một vẻ đẹp riêng mà các vùng đất khác không có. Câu ngạn ngữ "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến" có chỗ đứng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam được cả nước biết đến, cho chúng ta hiểu một thời Phố Hiến đã là một đô thị sầm uất thứ hai của đất nước.

Trước khi trở thành chốn đô hội, Hiến Nam Trang là nơi có nhiều cảnh đẹp, sông nước hữu tình. Các vua quan đi tuần thú thường dừng nghỉ lại đây. Một trong những cảnh đẹp đó là Đền Mây. Thời ấy sự giao lưu của con người còn ít, mọi người chưa biết đến Hạ Long chăng, hay vì lòng tự hào đến mức kiêu hãnh về quê hương, mà nơi đây đã có câu ngạn ngữ: "Trăm cảnh nghìn cảnh không bằng bến Lảnh đền Mây?".

Một bộ phận quan trọng của văn chương dân gian Phố Hiến là truyện cổ dân gian. Mỗi truyện đều có những nội dung, những đặc điểm riêng biệt. Chỉ tính riêng thần tích đã được dân gian hóa cũng rất phong phú. Đền Mây (xã Lam Sơn) gắn liền với truyền thuyết: Năm 1028, vua Lý Thái Tông trên đường kinh lý vào thăm đền, gặp mưa, cầu nguyện thì linh ứng tạnh mưa trên một nửa dòng sông.

Hiện nay trong đền vẫn còn bức hoành phi bằng chữ Hán bốn chữ "bán giang linh tích". Đền Nễ Châu (xã Hồng Nam) gắn với một câu chuyện tình đầy hấp dẫn giữa tướng quân Lê Hoàn với một cô gái xinh đẹp ở Hiến Nam Trang trên đường ông đi chiêu binh nghỉ lại. Nhưng mối tình say đắm nơi quyền quý không được bền chặt, người con gái giận dỗi bỏ về quê... Có lẽ thần tích được dân gian hóa rộng rãi và tiêu biểu hơn cả là ở đền Mẫu bên bờ hồ Bán Nguyệt.

Khi nhà Tống (Trung Quốc) mất nước, Dương Thái Hậu (mẹ vua Tống Đế Bính) đã cùng con gái cưỡi thuyền ra bể lánh nạn, không may thuyền đắm, xác giạt vào cửa biển, dân địa phương đã chôn cất và lập đền thờ. Truyện này có nhiều dị bản. Nhưng tựu trung đều thương cảm, ngợi ca khí tiết của một người đàn bà. Thần tích này có sức sống trong dân gian có lẽ nhờ sự đồng cảm đầy chất nhân văn "Thương người như thể thương thân" của dân tộc ta.

Truyện cổ dân gian Phố Hiến gồm nhiều thể loại: Truyền thuyết, cổ tích, giai thoại... Nếu tính theo sự đặc sắc thì có nhiều mô-típ lạ. "Tiếng khánh chùa Chuông"  kể chuyện chùa Chuông khi mới lập rất linh thiêng. Các cô gái làng đi chùa phải lòng sư thường ra trêu ghẹo cợt nhả. Nhà sư chỉ biết thỉnh chuông để át đi. Nhưng dần tiếng chuông không còn màu nhiệm. Bực quá, sư gõ khánh đá thay chuông. Các cô gái có mặt nghe thấy khánh đá đều có thai.

Hình tượng tiếng khánh khẳng định sự tôn nghiêm của chốn Phật đài. Truyện "Ngựa sắt" kể về một tên tướng Tàu vì quý con ngựa bị chết của mình đã bắt dân đúc một con ngựa sắt và lập đền thờ, mỗi tháng một người phải cắt cỏ cho ngựa ăn, ngựa không ăn thì phải bỏ mạng. Đến lượt gia đình ông bà già có một cô con gái. Cả ba người đều nhận đi chết để hai người kia được sống, thì được tiên ông giúp. Kết thúc câu chuyện bất ngờ, thể hiện ước mơ cái thiện thắng cái ác...

 Khó có thể nói gì hơn về văn chương dân gian Phố Hiến, bởi "những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý" (lời Hồ Chủ tịch). Có điều, những hòn ngọc quý ấy đang bị vùi lấp trong đất cát cùng năm tháng, và không biết đến bao giờ mới tìm lại hết được.

Theo tôi, cùng với việc đầu tư kinh phí cho việc tu bổ các di tích vật thể của Phố Hiến (đình, chùa, đền, miếu...), Nhà nước cũng cần đầu tư thích đáng cho việc tổ chức sưu tầm, biên soạn và xuất bản văn chương Phố Hiến. Những di tích phi vật thể này nhiều khi còn quý hơn những di tích vật thể. Nếu du khách đến Phố Hiến mới chỉ nhìn thấy những di tích vật thể thì mới thấy Phố Hiến một nửa, chưa hiểu được Phố Hiến.

Phần đáng kể của văn chương về Phố Hiến là phần văn học viết, trong đó chủ yếu là thơ phú. Phố Hiến, nơi cách đây một thế kỷ đã có hẳn một Tao đàn (Tao đàn Hưng Yên), có cuộc thi thơ vịnh Kiều có tiếng trong lịch sử văn học mà Nguyễn Khuyến tham gia ban giám khảo và Chu Mạnh Trinh giành giải nhất thơ Nôm. Nhưng hơn bất cứ thể loại nào của văn chương, thơ cần "quí hồ tinh bất quí hồ đa". Với bấy nhiêu bài thơ có được, chúng ta vẫn có thơ Phố Hiến.

Khác với thơ dân gian, khi nói về cảnh đẹp danh thắng thường chỉ là giới thiệu; thơ viết về Phố Hiến miêu tả những cảnh đẹp cụ thể trong những thời điểm cụ thể. Trong bài "Bi đình thạch triện" (Nhà bia khắc đá) viết về Văn miếu Xích Đằng có 2 câu:

Đường qua trước mặt hương thơm lựu
Đê chắn ngang sườn rợp bóng cây

Hai câu thơ có cả hương thơm và màu sắc. Về Phố Hiến, quả thật chúng ta thấy rợp bóng cây, mà chủ yếu là bóng nhãn. Còn một màu sắc nữa, các thi nhân thường nói tới, đó là màu sắc ao hồ, những tấm gương của trời để cho mây, các tinh tú và thiên thần soi bóng. Trong bài "Trì dương bích sắc" (Nước ao sắc biếc), ta như nhìn thấy màu nước:

Ao vuông cạnh miếu tựa gương trong
Trong vắt một màu bụi sạch không

Còn về âm thanh, thơ vịnh về Phố Hiến chú ý đến âm thanh của khánh đá và chuông vàng của những ngôi chùa dưới vòm nhãn làm chủ cả trời chiều. Đến với thiền đài là đến với sự chiêm nghiệm, ở đây, thi nhân không miêu tả âm vang của tiếng chuông chỉ là để miêu tả âm thanh kiểu âm nhạc:

Tiếng chuông nhận rõ điều lý rành mạch
Nhắc nhở người ta hiểu được lẽ phải ở đời

(Chuông vàng khua tỉnh)

Thơ Phố Hiến tập trung nói nhiều đến hồ Bán Nguyệt. Không biết khi xưa, vị trí của Nguyệt hồ đối với Phố Hiến thế nào, còn hiện nay thì nó biểu tượng của thị xã Hưng Yên. Về gốc tích của Hồ Bán Nguyệt, người xưa đã có câu: "Bán Nguyệt hồ tiền nguyên thị hải/ Nhất binh đẩu ngoại cánh vô sơn" (Dịch: Ngoài ngọn Đẩu ra, không có núi/ Trước Hồ Bán Nguyệt vốn biển khơi). Bài "Bán nguyệt hồ quang" (trong "Hưng Yên thập vịnh"...) có tả:

Bờ đông tây tựa cung cong bọc
Trời dưới trên như kính sáng treo.

Nhưng tài tình hơn cả khi miêu tả Hồ Bán Nguyệt là bài phú "Bán Nguyệt Hồ" của Lê Cù tiên sinh người làng Hoa Giang (Mậu Dương) làm khoảng cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn. Ông sẽ sống mãi cùng bài phú này như hiện tượng nhà thơ một bài:

Kìa hồ là cảnh hữu tình, khi soi xuống có hồ thì có nguyệt
Mà nguyệt vốn kho vô tận, ngửng trông lên còn nguyệt ấy còn hồ

Tiếp những đời sau còn biết bao thơ phú vịnh Nguyệt Hồ, người tả cảnh đẹp, người ký thác tâm trạng, với nhiều hình thức đẹp đầy chất thơ của các thi nhân.

Năm 1904, Lê Thảo Chung ở Tiên Hạ, Thọ Xương (Thanh Hóa), cháu xa của Lê Thời Hiến (Nguyên Trấn thủ trấn Sơn Nam) đến Phố Hiến để lại bài thơ nói lên sự ngậm ngùi tiếc thương cho một thời sầm uất phồn thịnh của Phố Hiến qua sự hoang phế đương thời:

Hiến Nam trải mấy nắng lần mưa
Trăng giãi sen tàn, gốc nhãn trơ
Đền cũ đôi nơi đèn thấp thoáng
Hàng tầu hai dãy cỏ lơ thơ...

Nhưng rồi, tuy không còn sầm uất, thời gian đã biến đổi Phố Hiến thành thị xã Hưng Yên. Nếu thời phồn thịnh nhất, Phố Hiến có hai nghìn nóc nhà (khoảng một vạn dân) thì thị xã Hưng Yên đã lớn gấp nhiều lần. Thời đại mới đã đưa thị xã Hưng Yên (thủ phủ của tỉnh Hưng Yên) vào chủ nghĩa xã hội thật rực rỡ, thật tươi đẹp, trong bài thơ nổi tiếng "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" của nhà thơ Chế Lan Viên :

Ong bay nhà khu tỉnh ủy Hưng Yên
Mật đồng bằng mùa nhãn ngọt môi em

Gần đây nhất, các tác giả Vũ Đức Dật, Trần Đăng Ninh, Hoàng Thế Dân, Nguyễn Khắc Hào, Lê Hồng Thiện, Nguyễn Thành Tuấn... đã có những bài thơ viết về Phố Hiến gây được ấn tượng tốt. Riêng nữ sĩ Điền Trang đã có một chùm thơ khá hay về Phố Hiến - Hưng Yên: "Đò Yên Lệnh", "Em về Phố Hiến", "Viết ở Hưng Yên"... với một giọng thơ riêng nên những câu thơ đẹp:

Trăng soi mặt nước xanh mờ
Nghe thuyền câu đã gọi bờ lanh canh...

Thoảng thơm hương nhãn bay xa
Ngoài kia ấm tiếng ai ca bồi hồi
Sông Hồng ngọn gió chơi vơi...

Người xưa có nói: Núi không cốt ở cao, miễn là có tiên ở; hồ không cốt ở sâu, miễn là có rồng ở. Tôi nghĩ văn thơ Phố Hiến chưa có nhiều tác phẩm với dung lượng đồ sộ. Nhưng thơ văn Phố Hiến đã có thần và có tình. Thần ở chỗ đã nói được những nét đẹp nét hay riêng chỉ ở Phố Hiến mới có. Tình ở chỗ, ai được đọc thơ văn viết về Phố Hiến cũng phải bâng khuâng như đã để quên một cái gì chưa tìm lại được. Phải chăng đó là quả chuông vàng ở chùa Chuông, hay nửa vầng trăng mang bóng hình ai đó...

Phố Hiến hôm nay đã trở thành thành phố Hưng Yên, đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng cửa đón du khách thập phương. Nhưng làm sao để khôi phục toàn vẹn di sản văn hóa Phố Hiến, để tinh thần Phố Hiến sống dậy trước sự mở cửa trong công cuộc đổi mới đất nước. Tôi mong và tin rằng câu hỏi đó đã có phương án trả lời chứ không còn bỏ ngỏ

.
.
.