Nỗi niềm thân phận con người

Thứ Ba, 22/06/2010, 15:18
Đúng là văn chương viết về tình yêu và thân phận con người thì dễ được mọi người chú ý hơn. Nhưng được chú ý với được yêu mến lại là một vấn đề khác. Và để được truyền tụng lại là một vấn đề khác nữa.

1. Thân phận con người

Chân lý lịch sử thì dễ gây tranh cãi, vì lịch sử đi qua rất khó dựng lại, còn chân lý nghệ thuật càng lùi xa càng dễ thống nhất vì nó còn hiện diện văn bản trên giấy trắng mực đen. Vì vậy, văn chương nghệ thuật được truyền tụng thì phải là vàng mười, là ngọc quý. Chứ viết về tình yêu và thân phận con người mà nhợt nhạt, mà bàng bạc, thì cũng bằng gió thoảng mây bay...

Tôi đã có bài viết "Tình yêu và nghệ thuật", nay chỉ đi sâu về văn chương và thân phận con người. Theo tôi thì đây là chủ để lớn nhất của văn chương nhân loại từ cổ đến nay. Bởi vì, con người chỉ sản sinh ra những gì cần thiết cho cuộc sống của chính mình. Thân phận con người là điều con người quan tâm nhất. Ca dao dân ca rất nhiều khúc hát than thân: "Thân em như hạt mưa sa/ Hạt rơi xuống đất hạt ra ngoài đồng"; "Thân em như dải lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai"... Hai kiệt tác lớn nhất của văn chương bác học nước nhà là "Truyện Kiều" và "Chinh phụ ngâm" thể hiện vô cùng sâu sắc về thân phận con người, thì ai ai cũng thừa nhận.

Thân phận con người cũng là chủ đề lớn của văn chương nhân loại. Nhà thơ hiện thực vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa, mà đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc tới khi viết di chúc của mình - nhà thơ Đỗ Phủ - thì toàn bộ thơ ông là nói về thân phận con người. Đỗ Phủ có ba bài "Biệt" nổi tiếng là "Tân hôn biệt", "Thùy lão biệt" và "Vô gia biệt". Đây là ba bài thơ nói về chiến tranh và cảnh biệt ly điển hình. "Tân hôn biệt" nói về vợ chồng mới cưới mà phải biệt ly vì chiến tranh. "Thùy lão biệt" là lúc sắp già mà còn phải biệt ly để ra trận. Đó là hai cảnh huống thật trớ trêu. Nhưng đến tận cùng trớ trêu, tận cùng xót xa đấy là "Vô gia biệt", kể chuyện một người đi lính thua trận trở về gia đình tan nát, nhà cửa bị tàn phá, cha mẹ chết, anh em vợ con không còn một ai, bây giờ lại bị bắt đi lính lần nữa, nên không còn ai mà từ biệt. Tác giả đã phải thốt lên: "Không nhà mà phải biệt ly/ Người đời đến thế còn chi là người!".

Nhà văn lớn của nước Nga Mikhain Sôlôkhốp (1905-1984) có một truyện ngắn được dựng thành phim từ thập niên sáu mươi của thế kỷ trước đã gây chấn động dư luận. Đó là truyện ngắn "Số phận một con người", kể về cuộc đời của một người lính Nga Anđơrây Xôkôlốp, bị đẩy đến tận cùng đau khổ, tận cùng bất hạnh. Chỉ nhìn đôi mắt thất thần của anh ta, tác giả (người dẫn truyện) đã phải thảng thốt... Còn chàng trai bạch vệ Grigori trong kiệt tác "Sông Đông êm đềm", 14 lần bị thương trong chiến tranh và nàng Axinhia với cuộc đời sóng gió chỉ mong ước được sống bình yên mà không được, rồi bị chết vì đạn lạc. Số phận con người thật là nhỏ bé, thật là mong manh trước bão lửa chiến tranh chính là bài ca bi thảm có sức mạnh phản đối chiến tranh.

Nền văn chương hiện thực huyền thoại của các nước Nam Mỹ trong thế kỷ XX cũng vậy thôi. Từ bộ tiểu thuyết về ca cao của Giócgiơ Amađô: "Miền đất quả vàng", "Đất dữ", "Ca cao"; đến các tiểu thuyết "Đôna Bacbara", "Người đàn bà cuối cùng và cuộc chiến đấu sắp tới"; những tiểu thuyết của Máckét mà tiêu biểu là "Trăm năm cô đơn"... Trên nền cuộc chinh phục miền đất dữ Nam Mỹ là số phận của những con người. Rồi ở châu Á, tiểu thuyết "Mùa tôm" của nền văn chương Ấn Độ, "Nền giáo dục sai lầm" của Inđônêxia, "Tiếng chim hót trong bụi mận gai" của nhà văn Úc Côlin Mắccalâu... Tất cả, tất cả như một bản đồng ca của nhân loại về thân phận con người, ở những hoàn cảnh khác nhau, những phương diện khác nhau, các tầng nấc khác nhau... được thể hiện bằng những hình thức nghệ thuật đặc sắc và độc đáo. Vâng, nghệ thuật đặc sắc và độc đáo chính là yếu tố đảm bảo sức bền vững và lan tỏa của các tác phẩm văn chương nghệ thuật, chứ không phải ở bản thân chủ đề thân phận con người.

Ở cuối thế kỷ XX, trước những biến động lớn của lịch sử, nhà thơ Raxun Gamdatốp ở nước cộng hòa nhỏ bé Đaghextan (Nga) đã viết bài thơ "Không đề" về thân phận con người: "Số phận hiền lành, tôi chẳng cuồng điên/ Mắt vẫn sáng, tôi vẫn còn mơ ước/ Được nhìn thấy giá bánh mì hạ xuống/ và giá con người được nâng lên". Phải chăng thân phận con người mãi mãi là đề tài lớn nhất của văn chương nghệ thuật và mọi thiên tài nghệ thuật tỏa sáng rực rỡ nhất đều từ sự trăn trở về thân phận con người?

2. Nỗi thất vọng và niềm hy vọng

Nỗi thất vọng và niềm hy vọng là hai trạng thái tâm lý tình cảm đối nghịch. Nỗi thất vọng là đỉnh cao của sự đau buồn mất mát, mà đỉnh điểm là tuyệt vọng. Niềm hy vọng là đỉnh cao của sự lạc quan yêu đời, thường hướng tới tương lai. Hai trạng thái tình cảm này là hai cực trong tâm lý một con người. Đây là trạng thái thất vọng tuyệt đỉnh mà nhà thơ thiên tài Pêtôphi (Hunggari) đã diễn tả: "Sầu đau là biển cả/ Vui sướng là ngọc châu/ Khi mò được ngọc châu dưới biển/ E giữa vời tan nát biết đâu!". Nỗi buồn đau của con người thường nhiều mà niềm vui thường ít, nên nỗi thất vọng cũng nhiều hơn niềm hy vọng. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có một câu thơ nhận thức đúng nỗi đau và hy vọng ở đời: "Làm sao được, rượu hoa thường ít/ So với chia ly, gian dối, dập vùi".

Trước đây, văn chương của chúng ta mang tư tưởng của thời đại, thường nhấn mạnh niềm lạc quan hy vọng. Nó như hơi thở tự nhiên của cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn ở trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch vẫn hy vọng "Nhà lao mở cửa ắt rồng bay". Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cả dân tộc ra trận, cả dân tộc mang một niềm hy vọng. Đó là niềm hy vọng chiến thắng. Nhà thơ Phạm Tiến Duật, người đã tắm mình trong cuộc chiến đấu này, một trong những tiếng thơ tiêu biểu của thơ chống Mỹ, đã nói về niềm hy vọng ngay cả khi nói về tình yêu: "Ngày thắng giặc đang tới gần phía trước/ Tình yêu nào không nghĩ đến ngày mai"... Trong cuộc sống thường ngày, niềm hy vọng luôn luôn thường trực. Cha ông ta đã gửi gắm niềm hy vọng vào trong những làn điệu dân ca: "Ra về, em có dặn rằng/ Nơi hơn người kết, nơi bằng đợi em!"...

Niềm hy vọng cũng là một đặc điểm của văn chương nhân loại. Niềm hy vọng lớn nhất mà con người gửi gắm trong các tác phẩm văn chương các dân tộc là cái thiện thắng cái ác. Trong tất cả các truyện thần thoại, cổ tích các dân tộc đều kết thúc có hậu. Ở Việt Nam, Sơn Tinh thắng Thủy Tinh; Thánh Gióng thắng giặc Ân; cô Tấm trở thành hoàng hậu; chàng Thạch Sanh chiến thắng trăn tinh, đại bàng và liên quân các nước chư hầu... Dân tộc Trung Hoa qua các tiểu thuyết cổ điển "Tây du ký", "Tam quốc diễn nghĩa", "Thủy hử"... cũng đều ước mơ cái thiện thắng cái ác, khát vọng một cuộc sống yên bình. Nước Nga, qua bộ tiểu thuyết "Chiến tranh và hòa bình" của Lép Tônxtôi viết về cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812, Mikhain Sôlôkhốp viết về cuộc nội chiến đầu thế kỷ XX "Sông Đông êm đềm", và nước Mỹ qua tiểu thuyết "Cuốn theo chiều gió" cũng có ước mơ, niềm hy vọng gì khác là cái thiện thắng cái ác và cuộc sống thanh bình sẽ trở lại với tất cả mọi người...

Tuy nhiên, nhiều niềm hy vọng thì cũng lắm nỗi thất vọng. An Dương Vương những mong gả Mỵ Châu cho Trọng Thủy con trai Triệu Đà để giữ tình hòa hiếu, mà "Nỏ thần sơ ý trao tay giặc/ Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu". Đấy là việc nước, còn việc nhà thì như nàng Kiều chỉ hy vọng được bình yên nên khuyên Từ Hải đầu hàng, mà trở thành tuyệt vọng phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử. Trong truyện "Tam quốc diễn nghĩa" một người tài giỏi như Khổng Minh, nắm được thời thế, biến hóa như thần, cả đời lạc quan mà cuối cùng phải thất vọng, khi ngọn nến cầu sinh mệnh vụt tắt, lời than của ông còn xúc động đến tận hôm nay: "Thế là từ nay ta không còn được ra trận đánh giặc nữa; trời xanh thăm thẳm, hận này biết bao giờ nguôi!".

Nỗi thất vọng và niềm hy vọng thực ra là xoay quanh thân phận con người. Văn chương nhân loại cổ kim tự nhiên đề cập đến những đỉnh điểm ấy. Như sự lóe sáng thì chói chang hơn, còn sự vụt tắt thì cũng làm cho thêm tối xẫm. Vì vậy, hai trạng thái ấy, có tác động mạnh đến trái tim con người, nó hỗ trợ cho tài năng của các văn nghệ sĩ khi thể hiện. Nếu biết kết hợp để cộng hưởng thì những tác phẩm đề cập đến thân phận con người ở những thời điểm ấy sẽ dễ thành công hơn.

8/5/2010

.
.
.