Nhân tài "trong lá ủ"

Thứ Năm, 21/08/2014, 08:00
Nhóm bia hơi vỉa hè chúng tôi thường vẫn gọi hắn với cái biệt danh đùa vui như thế: "Nhân tài trong lá ủ" - ngụ ý là kẻ có tài nhưng còn vùi trong lá ủ. Nguyên cớ cũng xuất phát từ lời đồn đại của anh em: "Ngoài làm báo, hắn đã từng viết văn, viết kịch, vẽ tranh (nghe nói hắn đã vẽ cả trăm bức rất kỳ công, nhưng chẳng mấy ai được thưởng ngoạn). Cũng nghe đồn, hắn còn là một cây ghita tay ngang tàm tạm ở tòa báo...". Điều lý thú đối với kẻ viết bài này, là biệt danh đó do mình khởi xướng, rồi "chết danh" luôn.

1. Nhóm chúng tôi có 3 người, mỗi người có hoàn cảnh riêng, nhưng có một cái chung là man mác nỗi buồn của số phận. Bởi thế, dễ gần gũi nhau hơn. Tôi và Đào Duy Thủy đều là cựu chiến binh, đã nghỉ chế độ hưu trí. Chỉ còn mình hắn, đứa em út của nhóm là trai trẻ, còn sung sức - tuổi Canh Tý (1960) kém chúng tôi tới hơn một con giáp, với họ tên đầy đủ là Phạm Văn Ba (bút danh Văn Ba). Quê quán: xã Chuyên Ngoại, Duy Tiên, Hà Nam. Năm 1978 thoát ly gia đình, công tác trong lực lượng Cảnh sát bảo vệ. Năm 1986 được đơn vị cử đi học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (Khoa Ngữ văn), sau khi về công tác tại Báo Công an nhân dân. Hiện nay cấp hàm Đại tá, với chức vụ Trưởng ban Chuyên đề An ninh thế giới (một ấn phẩm của Báo Công an nhân dân).

Không ít người quan niệm rằng nghề làm báo là nghề tự do, phóng túng, "bay nhảy" thoải mái… Song, dưới con mắt của kẻ viết bài này, nhìn vào cái gương của Phạm Văn Ba thì đó là cái nghề "giời đày". Cái nghề ăn không ngon, ngủ không yên. Tất bật với bao cung đoạn để hoàn thành một số báo. Báo phát hành rồi vẫn thắc tha thắc thỏm, âm thầm nghe ngóng xem có gì sai sót để ''hứng chịu''. Thôi thì trăm dâu đổ đầu tằm. Chẳng thế mà cái đầu "con tằm" Phạm Văn Ba ngày một bạc phơ. Mới ngoài năm chục tuổi mà bói không ra một sợi tóc đen, để lĩnh trọn gói cái biệt danh "Ba đầu bạc". Chưa hết, cái vất vả, cần mẫn của Phạm Văn Ba còn thể hiện ở thời gian gắn bó với công việc. Dường như hàng chục năm anh ta chẳng biết nghỉ phép là gì. Ngày nào cũng có mặt ở tòa soạn không dưới 12 tiếng đồng hồ.

Hẳn sẽ có nhiều bạn đọc suy đoán, chắc cái anh trưởng ban này "hậu phương" bền vững lắm mới quên hết chuyện nhà. Xin thưa, không phải vậy. Người đồng đội này của tôi có hoàn cảnh đặc biệt lắm. Cái điều đặc biệt ấy khiến tôi ngày càng mến phục và thương cảm hơn. Ngoài thời gian làm việc ở cơ quan, về nhà Phạm Văn Ba còn phải lo toan, quán xuyến toàn bộ công việc gia đình. Cái điệp khúc ấy đâu phải chỉ ngày một ngày hai, mà nó đã kéo dài hơn 18 năm nay.

2. Thời còn công tác ở Cục Cảnh sát bảo vệ, Phạm Văn Ba là một trong những đoàn viên thanh niên hăng hái của đơn vị trong hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ với Đoàn thành niên địa phương thuộc khu vực Cầu Giấy. "Cây" văn nghệ, cây ghita Phạm Văn Ba phải chăng "phát lộ" từ thời ấy, để rồi lọt vào mắt xanh của một cô gái trong vùng. Người yêu của Phạm Văn Ba là cô Công Kim Thoa, sau này trở thành công nhân Xí nghiệp Giày da Hà Nội. Họ nên vợ nên chồng, bà mẹ vợ thông cảm với hoàn cảnh chàng rể, khó khăn nên đỡ đần luôn nơi ăn chốn ở. Đó là một căn nhà nhỏ cấp 4, trên diện tích mấy chục mét vuông ở khu vực Cầu Giấy.

Trai xứ quê ra thành được như thế, thật là "chuột sa chĩnh gạo". Năm 1989, họ sinh con gái đầu lòng. Đứa thứ hai là trai, sinh năm 1996. Nỗi đau bất ngờ giáng xuống, đó là  sự trắc trở khi người vợ "vượt cạn". Các bác sĩ sản khoa hết lòng cấp cứu, nhưng khi thằng bé cất tiếng khóc chào đời, cũng là lúc người mẹ vĩnh viễn ra đi. Xót xa thay! Phạm Văn Ba đã rơi vào cảnh "gà trống nuôi con" từ đó. Nếu không có nghị lực dễ gì vượt qua được cái đận kinh hoàng ấy, dẫu là một ngày, một tháng, một năm… huống chi tới mấy ngàn ngày thăm thẳm phận trai lận đận một thời. Thương lắm đồng đội tôi, với cảnh đời như thế!

Vừa làm cha, vừa làm mẹ quán xuyến việc gia đình và chăm nuôi 2 đứa con nhỏ. Đành rằng giai đoạn đầu cả bên ngoại và bên nội xúm lại đỡ đần. Xong, thời đó kinh tế còn nhiều khó khăn, mọi người đều phải bươn chải vì cuộc sống nên Phạm Văn Ba phải sớm đi vào con đường tự lập. Cả tháng trời, ngày hai buổi, sáng tinh mơ và chiều sẩm tối bế đứa con đỏ hỏn đi xin cho nó bú nhờ bà chị ruột của vợ mình mới sinh con. Ban đêm, tập cho nó ăn sữa hộp tự pha chế. Sáng ra, với chiếc xe đạp cọc cạch đèo con chị phía sau, địu thằng em phía trước đem lên nhà bà ngoại cách chừng hơn cây số nhờ bà cụ đã ngoài 60 trông đỡ, rồi tất tưởi guồng tới cơ quan. Cái quy trình ấy được lặp lại vào buổi tối, đón con từ bên ngoại về nhà.

Người ta nói trẻ con có "mụ dạy", chả hiểu thực hư ra sao, nhưng với trường hợp này thì quá đúng. Có lẽ vì thương bố mà hai đứa trẻ thật ngoan. Về đến nhà, trong khi bố lo dọn dẹp nhà cửa, cơm nước thì con chị ngồi đưa nôi cho em. Khi nào em o oe khóc nó mới gọi bố tới cho ăn. Có lẽ gian nan nhất ấy là khi trái nắng trở trời, con ốm, con đau cả cha và mẹ nuôi con trong những lúc như thế đã khổ, huống chi chỉ một người cha.

"Giấc mơ dưới những cái tổ"- Sơn dầu của Phạm Văn Ba.

Thương cảm trước hoàn cảnh ấy, nhiều người trong gia đình cùng bạn bè thân hữu đã khuyên Phạm Văn Ba nên tìm một người mẹ cho hai đứa bé, nhưng cậu ta đều khất lần, để rồi làm nảy sinh bao suy đoán của bạn bè: Có lẽ vì nghĩa nặng tình sâu với người bạn đời quá cố mà cậu ta không đi bước nữa; cũng có thể vì ảnh hưởng của quan niệm xưa cũ thương cho 2 đứa con phải rơi vào cảnh dì ghẻ con chồng mà cậu ta chấp nhận cảnh "bóng lẻ phòng không"…

3. Tôi tới thăm bố con Phạm Văn Ba vào một ngày cuối năm. Đúng thời điểm cả 6 ấn phẩm của Báo CAND đã phát hành xong số Tết. Thì cũng phải chọn vào dịp này may ra mới có thời gian hàn huyên với nhau.

Cả ba bố con đều ở nhà đông đủ. Cháu lớn - Phạm Hồng Ngọc đang lúi cúi dưới bếp. Năm đó Ngọc vừa đỗ vào đại học. Bây giờ cháu đã trở thành cán bộ Nhà nước. Đứa con trai, cháu Phạm Công Bình, học cấp II. Năm nay vừa thi đại học. Chào khách xong, Bình vội xách xe đạp ra đi. Lát sau trở về với lỉnh kỉnh trên xe của cu cậu những bao gạo, thùng mì tôm, túi rau, túi mắm muối, kèm theo cả mấy chai bia… Phạm Văn Ba phân trần: "Cháu là "nhân viên tiếp phẩm" của gia đình đấy. Được giao nhiệm vụ từ khi biết đi xe đạp. Em nhờ mấy bà quen ngoài phố mua giúp. Hằng ngày khi tan học, cháu tạt vào đem về. Công việc gia đình bây giờ hai chị em cháu đảm đương hết''.

Thấy tôi chăm chú ngắm những bức tranh treo la liệt trên tường và dựng ở góc nhà, Phạm Văn Ba phân trần:

- Nhà chật quá, vẽ được bức nào em cứ treo phứa lên, hết chỗ treo thì dựng vào xó.

Tôi ngước về phía cầu thang:

- Ở trên đó còn mấy tầng, có treo tranh không?

- Nhà em làm chắp vá, mấy lần mới xong được ba tầng và một cái tum vừa chống nóng, vừa làm phòng vẽ. Các phòng trên đó còn bê bối lắm. Để em đưa bác lên ngó qua một tý.

Gọi là một tý, nhưng cũng phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ tôi đắm chìm trong "thế giới tranh" khác lạ của Phạm Văn Ba. Nó mang màu sắc triết lý, trừu tượng xoay quanh thuyết âm dương, thuyết ngũ hành, triết lý về sự sinh tồn của con người, quy luật về sự tồn vong của nhân loại… Lạ lắm! Tài lắm! Đặc biệt là tranh sơn dầu của Phạm Văn Ba vẽ về những giọt nước đọng trên lá cây khiến người xem phải sờ tay vào tưởng như những giọt nước thật. Phạm Văn Ba vẽ rất kỹ. Có những bức từ ý tưởng cho tới nhiều năm sau mới hoàn thành tác phẩm. Ấy vậy mà số lượng tranh của cây cọ nghiệp dư này có tới cả trăm bức.

Những ly rượu tất niên hôm ấy, thứ men quê kỳ diệu đã khích lệ chủ nhà đưa tôi trở về với tuổi thơ của Phạm Văn Ba, cái thuở đánh găng đánh đáo, chăn trâu cắt cỏ giữa quê nhà. Cái thuở mà cậu "họa sĩ" tí hon của vùng chiêm trũng Chuyên Ngoại đã nổi như cồn bằng nhiều cuộc "triển lãm" tranh với chất liệu than củi vẽ trên giấy ximăng dán trên tường nhà cho bạn đồng hương "thưởng lãm". Người xem không phải chỉ có trẻ mục đồng mà còn có rất nhiều người lớn tham dự với nhiều lời ngợi khen khích lệ: "Thằng bé có hoa tay hội họa, không chừng lớn lên sẽ trở thành họa sĩ…".

Khi về công tác ở Báo Công an nhân dân, ngoài việc viết tin, viết bài, Phạm Văn Ba còn được giao trách nhiệm minh họa cho một số bài viết của báo, vẽ tranh biếm họa cho tờ Hà Nội mới, tham gia cùng nhóm làm triển lãm 40 năm truyền thống lực lượng Công an nhân dân… rồi chuyển sang công tác tại Ban Trị sự, mấy năm sau được cử sang Ban Thư ký tòa soạn Báo Công an nhân dân rồi Ban Chuyên đề An ninh thế giới (tuần) cho tới nay.

4. Tôi coi đó mà một sự cố trên lĩnh vực hội họa có liên quan tới Phạm Văn Ba. Nói đúng ra là sự cố do anh ta gây nên. Số là năm 2009, Bộ Công an phối hợp với Hội Mỹ thuật Việt Nam mở một trại sáng tác ngắn hạn dành cho những tác giả hội họa quan tâm tới đề tài "Vì an ninh trật tự và bình yên cuộc sống". Phạm Văn Ba được Ban tổ chức mời tham dự. Công việc ở tòa báo, dù nghỉ một tuần cũng khó, nói chi tới một tháng. Với tinh thần "chiêu hiền đãi sĩ", "đào núi tìm trầm", nên Ban tổ chức đã linh hoạt cho trại viên Phạm Văn Ba tham dự theo hình thức: Dự buổi khai mạc, bế mạc rồi đăng ký đề tài, nộp tác phẩm theo thời gian quy định.

Năm ngày trước khi tới thời điểm nộp tác phẩm, Phạm Văn Ba mới khoe với tôi và Hà Tuấn (lúc đó phụ trách tờ Báo CAND điện tử) về tác phẩm của mình. Với vốn hiểu biết nhất định của bản thân, tôi và Hà Tuấn đều chung một nhận xét: "Tác phẩm tốt, chắc chắn sẽ gây được ấn tượng sâu sắc với người xem".

Ngày bế mạc trại sáng tác, chúng tôi may mắn được Thiếu tướng Đặng Thái Giáp - Cục trưởng Cục Công tác chính trị (X15) gửi giấy mời tham dự. Gần tới nơi mới nhớ tới việc mua hoa tặng "tác giả người nhà" của mình. Tìm cả khu vực Thành Công không có được một bó hoa. Đành phải quay về chợ Giảng Võ, nên khi tới nơi đã gần xong phần báo cáo nhận xét của Chủ tịch Hội đồng chấm giải (cố nhiên là người của Hội Mỹ thuật Việt Nam). Tôi ghé tai hỏi nhỏ người ngồi bên cạnh: "Họ đánh giá tác phẩm của Phạm Văn Ba ra sao hả anh? Được xếp thứ mấy?". "Tác phẩm duy nhất bị đánh giá là vẽ lạc đề, bị loại ngay từ đầu". Tôi ngỡ ngàng, cật vấn: "Sao lại lạc đề? Tranh nó vẽ ý nghĩa sâu sắc, đầy tính nhân văn kia mà!". "Họ bảo sáng tác về lực lượng Công an mà không có mảy may một nét nào về Công an trong đó. Chưa hết, vẽ về một phạm nhân đi lao động cải tạo, lại trốn lao động chui vào lùm cây, ngồi ngủ. Ở bên trên lùm cây có những cái tổ chim, nên tác giả đặt tên cho tác phẩm của mình là "Giấc mơ dưới những cái tổ". Ngay cái tên gọi cũng lạc đề…".

Nghe chừng đó, tai tôi ù đặc, mặt nóng ran. Tôi khẽ thốt lên như nói với riêng mình: "Thật là khủng khiếp, kỳ lạ!…".

Phần cuối chương trình là một tiệc cốc tay nho nhỏ. Tôi cầm ly rượu vang đi chiêm ngưỡng từng tác phẩm và dừng lại trước bức tranh "Giấc mơ dưới những cái tổ" rất lâu để "thẩm định" lại khả năng cảm thụ của mình. Không! Không thể khác được! Không thể lạc đề được! Tổng quát bức tranh là hình ảnh một người đàn ông khỏe mạnh, có phần béo tốt, mặc quần áo phạm nhân, ngồi dưới lùm cây, bên trên có một chiếc tổ chim, mắt lim dim nhớ về quê hương, gia đình, được tác giả thể hiện bằng cái phông hình ảnh phía sau, xa xa là một làng quê - một căn nhà lợp ngói đỏ, bếp cũng lợp ngói, dưới chiếc sân gạch là hình ảnh người đàn bà kéo chiếc tàu cau có thằng bé con ngồi trên mo cau, phía sau nó là con chị chừng năm, sáu tuổi, đang giữ vai em cho mẹ kéo, cả ba mẹ con đều vui vẻ, hồn nhiên…

Tôi thả hồn vào bức tranh đầy tính nhân văn và sống động ấy và trở về thực tại khi rất đông người kéo tới. Tôi bỗng thốt lên: "Tác phẩm này sao lại bảo lạc đề? Công tác cải tạo phạm nhân là chức năng của lực lượng Công an. Chẳng lẽ sáng tác về đề tài trật tự, an ninh cứ nhất thiết phải có sắc phục an ninh, cảnh sát? Sao lại vô lý như vậy? Trong một buổi lao động, đều có nghỉ giải lao giữa chừng. Những phút giây ấy là quyền tự do của họ. Họ ngồi đâu, nhắm mắt hay mở mắt là quyền của họ. Cớ sao lại quy chụp cho là trốn lao động vào lùm cây ngồi ngủ?...".

Sự việc trên xảy ra cách đây đã gần một phần hai con giáp, vậy mà tôi vẫn cứ thấy day dứt trong lòng, đôi khi nó trỗi dậy sự giận hờn vô cớ, cứ như mình là người trong cuộc. Ấy là lúc báo chí nước nhà xôn xao bàn tán về một ban giám khảo nào đó trong việc chấm thi, chấm giải, nó toát lên sự non nớt về trình độ và thiếu công bằng, công tâm của những người "cầm cân nảy mực".

Đã đôi lần tôi đề cập, Phạm Văn Ba nên tổ chức một triển lãm riêng. Cậu ta phân trần: "Em đã tham gia triển lãm chung cách đây nhiều năm. Còn riêng thì… thiếu nhiều lắm, nhiều bộ chưa hoàn chỉnh". "Không nên cầu toàn. Vậy, "nhân tài" còn "ủ" đến bao giờ nữa?".

Mong thì mong vậy, nhưng tôi vẫn biết cái nghề hội họa công phu và tốn kém lắm. Những toan màu, khung tranh… cộng với chi phí cho một cuộc triển lãm đâu phải chuyện muốn là làm được. Bởi thế, kết thúc bài viết này, tôi xin mượn bốn câu thơ ứng khẩu tặng Phạm Văn Ba trong một buổi bia hơi, lạc rang vỉa hè cách đây dễ đến năm, sáu năm:

Cặm cụi bao năm nào ai biết
Lương đổ vào tranh để treo tường
Ước đến bao giờ tranh thành bạc
Để tớ thôi còn uống rượu suông

K.M.D.
.
.
.