Nhà văn Ngô Ngọc Bội: Cuối đời về lại "Ao làng"

Thứ Năm, 20/06/2013, 08:00

Ông sinh năm 1929 ở xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Vùng đất sơn thủy hữu tình được mệnh danh là "khe gấm" nằm bên hữu ngạn dòng sông Thao tươi đẹp. Chỉ ba, bốn mươi năm trở về trước, Phú Khê còn bạt ngàn đồi cọ. Hình ảnh những cây cọ ngổn ngang, gai góc vươn thẳng lên trời, tạo một nét quê trung du riêng biệt. Cũng giống như hình ảnh cây cọ, con người nơi đây rất thật thà và giàu cảm xúc.

Vốn sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, đến năm 1945 thì gia đình bị phá sản, cậu bé Ngô Ngọc Bội phải bỏ dở chương trình tiểu học thời Pháp về làm nông nghiệp. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc, rồi dân quân du kích liên xã Nỗ Lực. Năm 1948, Ngô Ngọc Bội thoát ly gia đình đi công tác, từ huyện đội Cẩm Khê, liên khu Việt Bắc, rồi tỉnh Hòa Bình. Từ năm 1957 đến 1968, làm cán bộ Ty Văn hóa Phú Thọ, Vĩnh Phú, sau đó làm biên tập viên Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam đến lúc nghỉ hưu năm 1993. Từ khi nghỉ hưu ông chuyển hẳn về sinh sống ở quê.

Dịp nghỉ lễ dài ngày vừa rồi tôi mới có dịp về thăm nhà văn Ngô Ngọc Bội. Hẹn hò từ năm này sang năm nọ, năm lần bảy lượt mãi mà toàn lỡ hẹn, dù nhà ông chỉ cách nhà tôi 12 cây số cùng một huyện. Được tin ông vừa trải qua trận ốm nặng, nên lần này không thể lỡ hẹn. Gọi điện đến nhà, như thường lệ, vợ ông là người nghe máy, bà bảo có việc gì cứ nói với bà, rồi bà sẽ nói lại với ông. Khi tôi ngỏ lời muốn đến thăm ông bà, bà nhiệt tình chỉ dẫn: "Chú xuống khỏi dốc Me, đi một đoạn có lối rẽ trái, đến bốt điện hỏi là đến".

Khi ông cầm quyết định nghỉ hưu ở Báo Văn nghệ, cái buổi ông chào tôi để về quê, tính đến nay đã tròn 20 năm rồi. Tôi giật mình, thời gian trôi nhanh quá. Mới ngày nào hay gặp ông ở Báo Văn nghệ, có lúc kể chuyện văn chương ông hào hứng khoe, mới biên tập loạt truyện của Nguyễn Huy Thiệp hay lắm, rồi có lần ông khen truyện ngắn "Người đàn bà họ Hoàng" của tác giả Triệu Hồng, người cùng quê. Trong trí nhớ của tôi, ông là người tinh tường trong việc phát hiện ra những giá trị mới của văn chương. Khi được phân nhà mới, ông vẫn ở một mình, vì vợ con ở quê. Thỉnh thoảng tôi vẫn cùng ông ngồi uống rượu suông ở căn hộ ven hồ Ngọc Khánh, mê mải bình luận cái hình con tắc kè bằng rễ cây sậy mà ông mang từ Lào về sinh động như thật. Ngắm bức ảnh ông chụp với nhà thơ Bút Tre từ hồi ở Ty Văn hóa Phú Thọ thật trẻ trung, thân thiết… Thế mà cách nay đã trên 20 năm. Ngồi trước mặt tôi bây giờ là một ông lão tám mươi ba tuổi, nghễnh ngãng, nhớ nhớ, quên quên, trong câu chuyện bà phải liên tục đỡ lời ông. Nếu đột ngột hỏi gì ông cũng bảo: "Không nhớ, hỏi bà ấy". Ngay cả lúc dẫn tôi vào thăm ngôi từ đường bên cạnh, tôi chỉ bức ảnh con trai người anh cả của ông, hỏi tên, ông bảo không nhớ, để hỏi bà ấy, thì liệu những kỷ niệm thời gian dằng dặc năm, sáu mươi năm cầm bút, với biết bao biến cố vui buồn, giờ ông còn nhớ được gì?

Vợ chồng nhà văn Ngô Ngọc Bội.

Nhà văn Ngô Ngọc Bội, kể từ khi tập truyện ngắn "Chị Cả Phây" xuất bản năm 1963, tiếp đến là "Đất bỏng", "Ao làng", "Nợ đồi", "Đường chè", "Ác mộng", "Lá non"… đến nay, tổng cộng ông đã cho xuất bản 7 tiểu thuyết, 5 tập truyện ngắn và hàng trăm bài ký… Có lẽ sinh ra trong một gia đình bị phá sản, tiếp đến là chuỗi ngày khổ cực, phải lao động sớm, thấu hiểu cảnh đời người nông dân, dòng máu nông dân của ông không ngừng tuôn chảy, kể cả khi ông sống ở thành phố đến mấy chục năm. Phải thế chăng mà đời văn Ngô Ngọc Bội chỉ chung thủy mỗi mảng đề tài nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tập truyện "Chị Cả Phây", tiểu thuyết "Ao làng" viết về giai cấp nông dân trong phong trào hợp tác hóa ở nông thôn những năm 60 của thế kỷ trước. Cuộc đấu tranh giữa tư tưởng cũ và chính sách mới. Tác phẩm "Lá non" lại phản ánh cuộc đấu tranh tìm hướng đi ở nông thôn khi hình thức tổ chức đã lỗi thời, thể hiện sự bế tắc trong sản xuất, sự phân hóa trong giai cấp nông dân, nhất là xuất hiện bọn cường hào mới ở nông thôn. Các tác phẩm "Gió đưa cành trúc", "Mênh mang cổng trời" gần như là tổng kết tiến trình vận động của nông thôn trung du, chuyển tiếp đến thời kỳ khoán hộ, đổi mới. Còn riêng tiểu thuyết "Ác mộng" nói về sự sai lầm, quá đà trong cải cách ruộng đất, ông là người được chứng kiến, ấp ủ nó từ lâu. Vấn đề tác phẩm đề cập không có gì mới, vì những sai lầm này Đảng ta đã công khai thừa nhận ngay sau đó và đã có biện pháp khắc phục. Có thể nói các tác phẩm của Ngô Ngọc Bội phản ánh rất sinh động quá trình vận động ở nông thôn, những vấn đề thời sự nóng bỏng đang diễn ra, với cái nhìn phản biện tích cực. Nhìn nhận khách quan mà nói, mỗi chủ trương, chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn từ năm 1954 đến những năm tiếp theo, do điều kiện hoàn cảnh bấy giờ, chúng ta còn thiếu kinh nghiệm lãnh đạo, chưa đủ tầm nhìn để đánh giá đúng thực tiễn, nên đã nóng vội duy ý chí. Một  chính sách đưa ra, bên cạnh yếu tố tích cực, bao giờ cũng có bất cập, tiêu cực đi liền, có lúc bất cập, tiêu cực lấn át cái tích cực, thế là sai lầm. Nhà văn Ngô Ngọc Bội là người rất mẫn cảm trước những chủ trương, chính sách đó. Ông vốn am hiểu nông thôn, hiểu từng phong tục tập quán, tâm tư, nguyện vọng của người dân nên đã sớm nhận ra những khiếm khuyết của bước đi chính sách, và ông không ngần ngại đề cập trong tác phẩm một cách sòng phẳng, không né tránh. Bản chất những vấn đề đề cập trong tác phẩm của Ngô Ngọc Bội chỉ là phản biện xã hội, nêu cái xấu, cái dở để mà khắc phục chứ không có ý gì khác. Khổ nỗi, khái niệm "phản biện xã hội" này chỉ gần đây mới có, chứ trước đây người ta cho là "nói ngược", là có vấn đề… đã khiến ông không ít lần gặp phiền toái. Cũng may là không khí dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật của xã hội ta đã minh chứng cho những suy nghĩ tâm huyết, trăn trở vì cộng đồng của các nhà văn chân chính, trong đó có nhà văn Ngô Ngọc Bội. Tiểu thuyết "Ác mộng" của ông từng bị "treo" phát hành, mới đây được trao giải thưởng Hùng Vương của tỉnh Phú Thọ, một tỉnh đi đầu đổi mới trong khoán quản nông nghiệp ở nước ta.

Hai mươi năm về sống ở quê, nhà văn Ngô Ngọc Bội vẫn không rời cây bút, trang giấy. Có đến một phần ba tác phẩm ông viết ở giai đoạn này. Nhưng vì tuổi tác, vì những biến cố của gia đình ập đến đã chi phối, ảnh hưởng đến ông rất nhiều. Chỉ riêng việc người con trai cả của ông đột ngột mất khi còn rất trẻ, đã khiến ông bà đau buồn mãi. Tháng 2 vừa rồi, người con gái ở bên, hằng ngày vẫn chăm sóc ông bà lại ra đi đột ngột, làm ông suy sụp hẳn. Bệnh thần kinh và bệnh tim cùng lúc tái phát khiến ông phải nhập viện điều trị.

Thăm ông, muốn trò chuyện nhiều, mà điều kiện sức khỏe ông không cho phép, tôi liền lấy bút chép tặng ông mấy câu thơ ứng tác tại chỗ để làm kỷ niệm, trước khi chia tay ông:

Cả đời viết lách nhọc nhằn
Chỉ thương một kiếp nông dân khổ nghèo
Có khi sách cũng bị "treo"
Thị phi gặp phải bao điều trái ngang
Giờ ông về lại Ao làng
Chuyện đời quên hết, chẳng màng điều chi

Hà Văn Thể
.
.
.