Nhà thơ Vương Trọng: Thơ sinh ra cốt để chuyển tải nỗi lòng

Thứ Bảy, 24/05/2008, 11:00

Đầu tháng 4 điện thoại xin gặp nhà thơ, ông bảo: Đang đi thực tế sáng tác ở Cà Mau. Giữa tháng 4 lại điện, nhà thơ vẫn chưa về. Ông đã ngược núi phía Bắc dự trại sáng tác ở Tam Đảo. Phải đến đầu tháng 5, cuộc hẹn của tôi với ông mới thực hiện được.

Tại ngôi nhà trong ngõ hẹp Vân Hồ, ông đợi tôi từ... chiều hôm trước. Trước mắt tôi, nhà thơ đã sở hữu một gia tài kha khá: 12 tập thơ, trường ca, một số tập truyện ký, từng đoạt giải trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ từ năm 1969, được trao giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Bộ Quốc phòng và gần đây là giải thưởng Nhà nước.

Tuổi đã ngoại lục tuần nhưng ông còn rất phong độ. Da trắng, tóc bồng bềnh, nụ cười hiền mà ý vị, dáng vẻ một thầy đồ hơn là một vị đại tá quân đội. Thầm đoán rằng với vóc dáng và cử chỉ này, nhà thơ phải thọ đến trăm tuổi. Vậy mà, không hiểu sao, từ gần hai mươi năm trước, chính xác là từ năm 1989, trong bài thơ "Lời dặn" nhà thơ đã viết những câu thơ lo xa thế này: "Nếu đời tôi dừng lại chốn tha hương/ Tang lễ xin đừng làm với lễ nghi cấp tá/ Đồng phục, súng, lưỡi lê, tôi không lạ/ Màu cờ kia sẵn trong máu tim tôi..." và "Thi hài tôi sẽ trở lại với làng/ Trên sức lực bạn bè, xóm mạc/ Những bàn tay lam nham cua cắp/ Những bàn chân tập tễnh bước gai đâm...".

Cái "làng" mà một ngày nào đó nhà thơ "sẽ trở lại" hẳn phải có một ý nghĩa rất thiêng liêng và có lẽ cuộc trò chuyện với ông nên bắt đầu từ "Lời dặn"... Tôi tự nhủ.

- Thưa nhà thơ, khi đọc "Tuyển thơ Vương Trọng" nhà thơ Trần Đăng Khoa đánh giá là: "Ngoảnh lại" (tên tập thơ) đã cho bạn đọc "một cái nhìn tương đối đầy đủ về một đời thơ của một thi sĩ có tài trong nền thi ca hiện đại". Trong Tuyển thơ, mở đầu là bài "Bên mộ cụ Nguyễn Du" và kết thúc là "Lời dặn". Còn nhớ, trong "Lời dặn" có những câu: "Núi Quỳ Sơn sẵn dành chỗ cho tôi nằm/ Hoa ấm lửa, đất nồng hơi than cháy". Hẳn Quỳ Sơn là nơi cất giấu nhiều kỷ niệm của cậu bé họ Vương và đó cũng là nơi dung dưỡng những mạch nguồn cảm xúc thơ ca của ông?

+ Núi Quỳ Sơn là vùng non nước trong đó có làng Đông Bích, xã Trung Sơn huyện Đô Lương, Nghệ An quê mình. Người dân quê mình hiếu học và rất yêu văn chương. Thời còn học ở trường làng, mình đã mê thơ, đặc biệt là “Truyện Kiều”. Năm học lớp 6 mình đã thuộc lòng toàn bộ “Truyện Kiều”. Nhưng làng mình còn có một duyên may khác khiến nhiều người thêm đam mê văn học, nghệ thuật.

Ấy là hồi kháng chiến chống Pháp, làng Đông Bích được chọn làm nơi đặt trụ sở của Hội Văn nghệ cứu quốc Liên khu 4. Người làng mình chẳng những biết mặt, biết tên những văn nghệ sĩ rất nổi tiếng của đất nước như: Thanh Tịnh, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Đào Mộng Long... mà còn được các nhà thơ truyền cảm hứng thưởng thức và sáng tác văn chương cho.

Mình còn nhớ như in những lần được xem các văn nghệ sĩ tổ chức đọc thơ, bình thơ hoặc biểu diễn văn nghệ ở sân khấu dựng trên ruộng mạ đầu làng... Những áng thơ, lời văn của các văn nghệ sĩ tiền bối ngày ấy còn dư âm đến tận bây giờ. Đó cũng là một trong những mạch nguồn nuôi dưỡng cho nhiều người làng mình biết làm thơ. Trong số những người làm thơ đó, Vương Thạch Qùy và mình may mắn hơn, đã trở thành nhà thơ...

- Nhưng lý lịch trích ngang trong cuốn "Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại" thì ông đã từng là giáo viên dạy môn Toán tại Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng. Trước đó ông theo học khoa Toán của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội... Học toán, dạy toán, nhưng rồi lại chọn nghiệp văn chương... hẳn là có duyên cớ?

+ Như mình đã nói, hồi học phổ thông, mình đã rất mê học văn và cũng đã được nhà trường cử đi thi học sinh giỏi Văn toàn quốc. Mình cũng học khá cả môn Toán. Thành thử, đứng trước ngưỡng cửa kỳ thi tuyển sinh đại học năm ấy, mình đã lựa chọn thi vào Tổng hợp Toán với hai lý do: thứ nhất, học giỏi tự nhiên thì thi vào khoa tự nhiên chắn chắn sẽ đậu.

Thứ hai, thời điểm ấy hai anh trai mình đã là giáo viên dạy Văn cấp 3 nên mình muốn học một ngành khác. Nhưng dẫu đã là sinh viên Toán và tiếp đó làm việc theo chuyên ngành Toán ở Bộ Tổng tham mưu, cái nợ văn chương vẫn đeo bám mình. Những ngày sống ở rừng núi Ba Vì làm công  tác Mã thám - giai đoạn mà bọn mình cho là đã đóng góp được nhiều nhất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mình vẫn tranh thủ sáng tác thơ.

Chùm ba bài: "Bài thơ nằm võng", "Hội vật quê tôi" và "Hoa trẩu" sáng tác thời kỳ ấy mang đến vinh dự thật bất ngờ: được trao giải trong cuộc thi Thơ của Báo Văn nghệ cùng với Phạm Tiến Duật, Vương Anh, Phan Thị Thanh Nhàn, Bế Kiến Quốc... Có lẽ nhờ giải thơ đó mà sau này, đang là giáo viên Toán của Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng, mình được cử đi học lớp sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam. Học xong lại quay về Trường Văn hóa. Đến tận tháng 4/1974, nhờ "sáng kiến" của nhà thơ Chính Hữu: điều Vương Trọng đi B sáng tác, mình mới được chuyển về Văn nghệ Quân đội và trở thành nhà văn chuyên nghiệp từ ấy đến giờ.

- Vẫn theo nhận xét của nhà thơ Trần Đăng Khoa: "Ở mảng thơ trận mạc, Vương Trọng có nhiều bài thơ chân thực nói về nỗi gian nan vất vả của người lính. Sau chiến tranh Vương Trọng mở rộng thơ mình sang nhiều đề tài khác. Anh viết về những người bình thường trong đời sống bình thường... Hình như đây mới đúng là  xứ sở của thơ anh. Mãi đến những năm gần đây, Vương Trọng mới phát hiện ra mỏ quặng đích thực của mình. Thơ Vương Trọng là thơ thế sự". Theo tôi biết, một trong những bài thơ thế sự rất thành công của anh là bài "Bên mộ cụ Nguyễn Du". Nhưng những năm đầu khi bài thơ mới ra đời, anh đã gặp một số phiền phức?

+Bài thơ "Bên mộ cụ Nguyễn Du" mình viết vào ngày 7/3/1982. Theo mình, đây là một bài thơ "đổi mới" sớm. Bài thơ bày tỏ một nỗi niềm, đúng hơn là nỗi bất bình đối với một thực tại. Tiết Thanh minh tháng 3 năm ấy, mình và một số anh em văn nghệ sĩ đứng trước mộ cụ Nguyễn Du mà không cầm nổi nước mắt. Bởi lẽ, đúng như những câu thơ mình đã viết: Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên/ Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây và: Một vùng cồn bãi trống trênh/ Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề...

thêm nữa: Không vầng cỏ ấm tay người/ Nén hương tảo mộ cắm rồi, lại xiêu. Sự thực lúc ấy, bọn mình không cắm nổi một nén hương trên nấm đất cằn cỗi trống không, nơi đại thi hào Nguyễn Du yên nghỉ đã gần hai thế kỷ...

Khi nhà thơ Phạm Tiến Duật biên tập và cho in "Bên mộ cụ Nguyễn Du" trên Báo Văn nghệ thì một số người tiếp nhận bài thơ dưới góc độ một bài báo. Nhiều người còn viết thư góp ý hoặc bày tỏ quan điểm rằng bài thơ đã nói xấu quê hương Nghệ Tĩnh. Nhưng đó lại là bài thơ có sức sống nhất. Bằng chứng là, sau này Nhà xuất bản Giáo dục đã in lại, nhiều tập sách viết liên quan đến thi hào Nguyễn Du đều có bài thơ này... Mừng hơn nữa là như ý nguyện của mình: Bao giờ cây súng rời vai? Nung vôi chở đá tượng đài xây lên... ít năm sau, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của cụ Nguyễn Du đã trở thành khu tưởng niệm. Phần mộ của cụ đã được xây khá đẹp, quanh năm nghi ngút khói hương của người dân trong vùng, của khách thập phương về tham quan.

- Sau "Bên mộ cụ Nguyễn Du", anh còn một bài thơ thế sự nổi tiếng khác là "Lời thỉnh cầu ở Nghĩa trang Đồng Lộc". Và từ 5 câu trong đoạn cuối của bài: "Ngày bom vùi tóc tai bết đất/ Nằm xuống mồ rồi mái đầu chưa gội được/ Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang" cũng là ý nguyện chung của mọi người. Vì thế bên tượng đài 10 cô gái thanh niên xung phong hy sinh ở ngã ba Đồng Lộc hiện nay đã có 2 cây bồ kết mọc lên xanh tốt...

+ Và bài thơ "Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc" cũng đã được khắc trên đá. Sắp tới nhân kỷ niệm 40 năm ngày hi sinh của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc, tượng đài sẽ được tu tạo. Người ta sẽ cho khắc bài thơ của mình kèm bản dịch sang tiếng Anh của ông Trần Đình Hoành - một dịch giả Việt kiều ở Mỹ để du khách  toàn thế giới đến nơi đây sẽ hiểu hơn về nỗi lòng của người Việt Nam với những người đã hy sinh tuổi trẻ và máu xương để làm nên chiến thắng của dân tộc.

- Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: "Khi thơ đã đạt đến độ hay rồi thì người đọc chẳng ai còn để ý đến hình thức nữa, thậm chí người ta cũng quên luôn cả những con chữ. Còn nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng: "Gặp thơ rồi thì quên chữ quên câu". Tôi nghĩ thơ Vương Trọng không chỉ hay mà đã góp phần tải đạo giúp đời. Xin nhà thơ tâm sự một vài lời với bạn đọc về trách nhiệm công dân của nhà thơ…

+ Tôi luôn nghĩ về trách nhiệm công dân của nhà thơ vì thế luôn muốn cho thơ mình có ích. Một bài thơ hay để cho người đời ngẫm ngợi cũng là có ích, nhưng nếu ý tưởng trong bài thơ làm thay đổi được những sự bất hợp lý của cuộc đời thì thơ càng có ích hơn.

Xin cảm ơn nhà thơ về cuộc trò chuyện này

Nguyễn Xuân Hải (Thực hiện)
.
.
.