Nhà điêu khắc từng ngủ trên máy chém
Nom anh làm việc thì thấy người nghệ sĩ điêu khắc còn vất vả hơn thợ đóng gạch. Đống đất sét khuân từ đâu về, chân lận tay xắn, rồi dùng xẻng, dùng mai để băm, trộn, nhào nhuyễn cho thành cối đất. Ấy rồi dùng đôi tay gân guốc bê từng tảng đất lớn, quật dần lên hình hài pho tượng. Khu vườn của Anh Vũ ngổn ngang tượng đất nung và lan man cỏ dại, được thu gọn lại, dành chỗ thoáng đãng để Lê Liên đắp tượng.
Lê Liên và Anh Vũ như cặp bài trùng tự mấy chục năm. Thuở cùng làm việc ở Ty Văn hóa Hà Bắc, cả hai đều có tiếng về tính lang bang. Miền quê Bắc Ninh, Bắc Giang là trung tâm của chùa chiền, đình đền, miếu mạo. Những mái ngói rêu xanh, những bức điêu khắc, đục trạm tài hoa và lãng mạn trên kèo cột, trên câu đầu cửa võng... Lại cả những pho tượng gỗ, tượng đất, sơn thếp lộng lẫy hoặc long tróc nham nhở... đã hút hồn hai chàng trai có máu nghệ sĩ tang bồng.
Ngược lên làng đồi có ngôi nhà người bạn, kỳ này, Lê Liên dành mấy tuần liền phục chế, dựng lại pho tượng "Chuyện cổ tích" mà anh đã bị thất lạc. Thực ra pho tượng này, anh sáng tác từ mấy chục năm về trước. Pho tượng đã gắn bó với đời anh tới mức, hễ bạn bè nhắc đến Lê Liên, là phải nhắc tới tác phẩm này.
Tôi còn nhớ, ngày ấy, Lê Liên cũng đắp pho tượng này tại nhà Anh Vũ. Thuở ấy, Anh Vũ còn nhà tranh vách đất. Lê Liên vác đất sét về đắp tượng ở ngay gian chính, theo lời mời của Anh Vũ. Thoạt đầu, chỉ định đắp nhỏ, rồi cảm xúc sáng tạo cứ bừng nở, pho tượng càng cao lồng lộng trong gian nhà tre lá chật hẹp.
Không thỏa mãn với ánh sáng lom đom trong căn nhà, Anh Vũ bèn trèo lên mái nhà dỡ tung rơm rạ, rui mè, để ánh sáng thiên nhiên ùa bủa quanh pho tượng của người bạn. Pho tượng với chân dung người bà phúc hậu, bìu ríu xung quanh là những đứa cháu như quả na, quá mít bên gốc cây, ríu rít, ấm áp và thẳm sâu tình người. Bà đang kể chuyện cổ tích cho các cháu nghe. Cái vũ trụ nhân sinh như đang quay tròn, liên hồi và lắng đọng.
![]() |
| Nhà điêu khắc Lê Liên bên nhóm tượng của mình tại triển lãm những tác phẩm đượcgiải thưởng Nhà nước (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tháng 8/2009). |
Khi hai chàng nghệ sĩ thăng hoa cảm xúc, trời bỗng đổ mưa. Mái nhà tranh vừa dỡ thủng biến thành thác nước đổ tràn lênh láng nền nhà như ngoài sân. Không che đậy đồ vật trong nhà, Anh Vũ đem hết áo mưa, liếp cót ra che đậy pho tượng đang đắp dở dang của Lê Liên.
Ấy rồi cũng tới hồi trời quang mây tạnh. Đấy là niềm vui khôn tả, khi giây phút pho tượng hoàn thành. Bạn bè tới chiêm ngưỡng, Lê Liên cười thoải mái. Anh nói, có được pho tượng này là nhờ Anh Vũ đã thổi cảm xúc tình bạn cao cả vào quả trình sáng tạo nghệ thuật của anh.
Đã đành lao động nghệ thuật là gian nan, vất vả. Nhưng phải nói nghề điêu khắc tượng đài thì phần vất vả cơ bắp hơn hẳn nghề viết văn làm thơ. Cái độ Lê Liên thể hiện nhóm tượng hoành tráng trong khu di tích Hỏa Lò (Hà Nội) thì tôi mới thêm nể sức lao động của anh.
Mùa hạ, trời nắng như đổ lửa, người anh luôn đẫm sũng mồ hôi. Anh cởi trần, đánh độc chiếc quần cộc, tóc vén sau gáy, buộc túm bằng sợi nịt. Khi thì anh bò xoài sát mặt đất để ngắm nghía. Khi leo trèo thoăn thoắt trên đà giáo. Khi gập người đo đạc từng chi tiết của khối hình. Có lẽ đây là bức tường điêu khắc bằng đá granit hoành tráng nhất Hà Nội. Công trình đứng tên hai nhà điêu khắc Lê Liên và Khúc Quốc Ân, nhưng bao giờ Khúc Quốc Ân vẫn nói, đó là ý tưởng nghệ thuật chủ đạo của Lê Liên.
Công trình điêu khắc "Đài tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng" tại Khu Di tích Hỏa Lò thi công ròng rã nửa năm trời. Nhớ người bạn, Lê Liên lại mời Anh Vũ từ xóm nhà đồi Bắc Giang về cộng tác. Đấy là công trình mà Lê Liên đã dồn hết tâm trí để sáng tạo hình khối âm, nhân vật trong quần thể tượng đài như từ tăm tối đi ra, phản ánh khí phách anh hùng của các chiến sĩ cách mạng hy sinh thân mình cho Tổ quốc.
Không biết có phải sức mạnh vô hình nào đó đã truyền cảm cho chàng nghệ sĩ điêu khắc Lê Liên không, nhưng tôi đã thấy những ngày ấy anh làm việc không kể giờ giấc, không hề mệt mỏi. Bình thường Lê Liên có thói quen hay uống rượu khi sáng tạo. Nhưng quá trình tập trung trí lực cho công trình này, anh như sao nhãng và quên cả rượu.
Nhiều bữa, thấy hai chàng nghệ sĩ ngồi nhai bánh mỳ và tu nước Lavie ngay chân tượng đài. Họ vừa ăn vừa ngắm nghía tượng. Khu Di tích Hỏa Lò vốn là khu hành quyết, bao đầu rơi máu chảy của các chiến sĩ cách mạng đã xảy ra tại nơi này. Nhiều người tới tham quan vẫn cảm thấy lạnh gai người vì âm khí. Ấy mà mấy tháng thi công ròng rã, Lê Liên thường ăn ngủ tại chân công trình.
Tại khu hành quyết còn lưu giữ chiếc máy chém mà thực dân Pháp từng xử tử bao chiến sĩ cách mạng. Bên cạnh chiếc máy chém lạnh lùng kia, còn có chiếc gơ đan bằng những sợi guột, dùng để hứng đầu lâu khi hành quyết. Có lẽ chiếc gơ kia đã từng chứa hàng nghìn chiếc đầu khí phách. Máu đỏ đã khô thẫm từng sợi guột. Ấy mà đã nhiều tối, tôi thấy Lê Liên chui vào trong chiếc gơ đó, đậy nắp, co mình ngủ ngon lành sau ngày làm việc cật lực. Anh nói ngủ trong đó rất yên lành và lại tránh được cả muỗi. Có lần tôi hỏi đùa lê Liên: "Cao vía nên không sợ à?". Lê Liên cười xòa, nói vui, có lẽ các chiến sĩ cách mạng thấy mình làm tượng tôn vinh họ, nên đã phù hộ cho mình.
Phần thưởng xứng đáng cho nghệ sĩ điêu khắc Lê Liên là Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (đợt 2), với ba tác phẩm tiêu biểu "Khi chiến tranh đi qua", "Đồng quê " và "Đài tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng".
Lê Liên là người thích xê dịch. Khi học trung cấp mỹ thuật, ra trường, anh không tìm việc tại Hà Nội, mà xin về công tác tại Hà Bắc. Cái miền đất văn hiến, nhiều đình chùa miếu mạo, nhiều hội hè đình đám lan man suốt cả tứ mùa, đã cho anh những cảm xúc đắm say. Anh ghi chép, dập in được hàng nghìn mẫu trạm khắc, phù điêu gỗ, đá ở đình ở chùa. Cùng đồng nghiệp, anh đã phát hiện, sưu tập, bảo quản được hàng trăm bản khắc gỗ, các bức điêu khắc đá cổ có giá trị, đang nguy cơ bị hủy hoại bởi thời gian.
Mấy anh em ở Ty Văn hóa Bắc Giang còn kể, một bữa thấy Lê Liên nhoài người đạp chiếc xe đạp không phanh không gácđờbu, phía sau xe dây dợ lằng nhằng buộc một tảng đá to tướng và mốc thếch về cơ quan. Khi bỏ ra, ai cũng ngạc nhiên, đó là pho tượng đá đầu người mình trĩ ở chùa Phật Tích. Nếu anh không phát hiện và kịp thời đem về cơ quan để bảo quản, thì không khéo bức điêu khắc đá tiêu biểu thời Lý kia sẽ bị người dân đem vào lò nung vôi.
Lê Liên có may mắn nhiều năm được theo chân các nhà nghiên cứu mỹ thuật Từ Chi, Thái Bá Vân... đi điền dã, khảo cứu văn hóa vùng Kinh Bắc. Người dân địa phương không quên những ngày Lê Liên cùng nhà sử học Trần Quốc Vượng về khảo sát ngôi đình Phù Lão. Đấy là ngôi đình cổ được xếp hạng di tích lịch sử, lưu giữ rất nhiều bức trạm khắc gỗ tiêu biểu thời Lê, vậy mà bị xuống cấp trầm trọng. Nhà sử học và nhà điêu khắc đã lên tiếng kêu cứu, để ngôi đình được nhà nước trùng tu, bảo quản kịp thời.
Hơn mười năm dâng hiến tuổi trẻ cho miền quê quan họ, tới thời điểm thấy cần trở về Hà Nội học tập tiếp, anh đã quyết khăn gói ra đi. Trước lúc chia tay mảnh đất Bắc Giang, anh phóng xe đi chào tạm biệt hàng loạt quán chè chén, quán rượu nghèo, nơi một thuở anh đã gắn bó, tá túc, có khi túng bấn, anh đã từng "cắm quán". Tình cảm những con người bình dị, đã từng cho anh nhiều cảm hứng sáng tạo. Nhiều bạn bè và tổ chức cơ quan muốn giữ anh ở lại thêm thời gian, nhưng anh quyết từ chối. Anh trở về Hà Nội học Đại học Mỹ thuật với ngổn ngang kiến thức văn hóa dân gian mà anh đã thu lượm được bởi những ngày từng sống ở miền quê này.
Về Hà Nội, có dạo anh đi phụ tá cho người thầy, nhà điêu khắc danh tiếng Nguyễn Hải. Vừa học nghề của người thầy, vừa đi làm tượng đài suốt miền Trung và Tây Nguyên. Anh kiếm tiền bằng chính công việc lao động nghệ thuật của mình. Anh là người sống phóng túng và ngang tàng. Nhưng anh lại là người biết lo làm những việc cụ thể nhất cho gia đình và bản thân. Anh giao du với nhiều tầng lớp người trong xã hội.
Có dạo, thấy anh vắng bóng ở Hà Nội đến ba, bốn tháng. Bạn bè tưởng anh đi làm tượng ở tỉnh xa. Nhưng hỏi ra, mới biết anh về tít mít với mấy lò gốm Phủ Lãng ven sông Cầu. Anh lại vác đất, nhậu đất thành cối đất cho những người thợ chuốt gốm. Rồi lại uống rượu, lại ăn trầu vỏ, lại thức trắng đêm bên lò gốm đang hạ lửa, chờ ngày mở lò, đón chào sản phẩm mới.
Có hôm đêm đã khuya, anh điện thoại cho tôi, nói đang ở làng Lim, sung sướng được các nghệ nhân làng quan họ gốc, hát cho nghe một canh quan họ thật "căng, rền, nền, nẩy". Lại có buổi thấy anh ăn mặc tươm tất, đến bắt tay chào tôi để ra sân bay sang Nhật làm tượng, qua một công ty môi giới.
Đã có lần tôi chứng kiến anh đập tan một phác thảo đất sét khóm tượng khá đồ sộ mà anh đã dồn sức làm hơn tháng trời, chỉ vì anh chưa ưng ý. Con người sống mạnh mẽ và ngang tàng vậy, nhưng giây phút ấy, tôi thấy anh rũ rượi, hoang mang và tan tác vô cùng. Rồi có hôm anh lại khóa trái cửa nhà, không giao du, không muốn tiếp xúc một ai. Khi ấy, những trang sách nghệ thuật kinh điển lại an ủi, vỗ về và lay thức tâm trí anh.
Tôi nhớ chuyến đi Chiêm Hóa, Na Hang (Tuyên Quang) cùng anh năm trước. Trong căn nhà sàn người dân tộc Tày sặc sụa mùi ngô mốc, mùi men rượu, mùi khói bếp, anh nói như rền rĩ cùng tôi: "Chỉ có thiên nhiên là bất tử. Thiên nhiên, luôn dựng những tượng đài kỹ vĩ với con người".
Tháng 9/2009

