Nhà điêu khắc Đàng Năng Thọ: Triết lý người trầm tư
"Mắt em buồn nhớ ngày phiêu dạt/ Nhìn ướt đời tôi tự thuở nào" - Tôi thường nhẩm câu thơ này của nhà thơ Lê Nguyên Ngữ mỗi khi nhớ đến bức tượng "Người con gái Chăm" của nhà điêu khắc Đàng Năng Thọ - một tuyệt phẩm được trưng bày trong triển lãm đầu tiên của anh ở Hà Nội, năm 1995. Hôm ấy, tôi đến dự và quá bất ngờ với những hình khối u trầm qua những ánh mắt đầy biểu cảm của người con gái Chăm.
Đàng Năng Thọ học hội họa và tạo được ấn tượng qua tác phẩm "Lễ cầu mưa" trong kỳ tốt nghiệp năm 1992, nhưng lại gây một bất ngờ đến kỳ bí qua những pho tượng bằng đất nung trong cuộc trưng bày này. Tôi có cảm giác qua những bức tượng, anh đã truyền được ngọn lửa Chăm nóng bỏng như ánh mặt trời rực rỡ trên những sa mạc cát ở Ninh Thuận, quê hương anh.
1. Nhà thơ Inrasara nhận xét Đàng Năng Thọ là một tài năng xuất chúng của người Chăm. Anh lành hiền, có lối sống khép kín. Hỏi ra mới biết, anh đã từng có nhiều đêm thức trắng để tư duy và sáng tác. Những hình khối bất ngờ hiện lên như những tia chớp loé sáng. Anh ghi lại và nhào đất. Với hai bàn tay như linh cảm mách bảo, anh đã tạo dựng lại những gì ẩn chứa từ thân phận người qua kiếp trầm luân đậm chất Silva huyền ảo. Đó là sự hủy diệt và tái sinh. Chính vì thế anh hay đặt cho các bức tượng của mình những cái tên: "Luân hồi", "Âm dương", "Người mẹ vị tha", "Cô gái Chăm", "Tạ ơn" hay " Người trầm tư"…
Ấy là những ấn tượng đầu tiên của tôi về Đàng Năng Thọ. Thời gian trôi qua dễ đến chục năm, ánh mắt của cô gái Chăm ấy vẫn ám ảnh tôi. Cho đến một lần tôi vào quê Đàng Năng Thọ - làng gốm cổ Bầu Trúc. Tôi mong gặp lại anh mà không được. Nhưng thật bất ngờ, khi vào nhà nghệ nhân Đàng Thị Phan, tôi đã nhận ra "bóng dáng" Đàng Năng Thọ ở đó, khi tôi gặp những bức tượng rất quen thuộc được bày khắp trong sân nhà. Thấy tôi trầm trồ khen đẹp và say sưa ngắm nhìn bức tượng "Mẹ và con" thì nghệ nhân Đàng Thị Phan cho hay, đó là những bức tượng do con trai bà làm theo mẫu sáng tác của Đàng Năng Thọ. Tôi thấy như mình gặp lại anh một lần nữa, bởi lẽ người dân ở làng tự hào về anh lắm, vì anh là họa sĩ người Chăm đầu tiên được kết nạp vào Hội Mỹ thuật Việt Nam. Dường như anh sinh ra để làm tượng gốm cho làng Bầu Trúc vậy. Nhiều nhà sưu tầm đã về tận nơi để mua tượng của anh và nhà nhà làm tượng gốm theo anh; người người say mê chuyển sang làm gốm mỹ thuật để bán cho du khách. Đàng Năng Thọ trở thành tấm gương cho mọi người trong làng khám phá đến tận cùng vẻ đẹp của đất cát xứ sở đầy nắng và gió này…
2. Thế rồi một cách thật bất ngờ - tôi "gặp lại" Đàng Năng Thọ. Tôi đến quán Cà phê Serenade ở một hẻm phố thuộc quận 3, Tp HCM. Khi ấy, ánh nắng chiều còn rớt lại bên thềm. Bản nhạc chiều êm ru như mật ngọt. Tôi đang lắng nghe với bao ký ức bâng khuâng trong sâu thẳm thì bỗng có cảm giác ai đó đang nhìn mình. Tôi cảm giác vậy và ngó ra góc vườn. Ôi, thì ra lại đôi mắt ấy. Mắt Chăm của Đàng Năng Thọ. Bức tượng cô gái Chăm như nhìn thẳng về phía tôi, ngược phía ánh sáng. Ánh mắt nàng bỗng nhiên trầm tư và như thể hiện nỗi khắc khoải trong bản nhạc buồn du dương. Nỗi ai hoài qua đôi mắt ấy làm tôi nhớ đến Đàng Năng Thọ, và tôi có cảm giác là đã gặp lại anh, trò chuyện cùng anh; nghe nhạc cùng anh và trầm tư cùng anh. Lúc này tôi chợt nhớ đến câu ngạn ngữ rất thân phận mà anh thuộc, như đã vận vào anh trong cái nghiệp điêu khắc của mình. Có lần anh tâm sự rằng: "Cố tình cắm hoa thì hoa héo/ Vô tình cắm liễu thì liễu xanh". Anh vô tình chuyển từ hội họa sang làm tượng thì lại thành công. Thật tréo ngoe khi anh học hội họa nhưng lại được kết nạp vào Hội Mỹ thuật Việt
![]() |
|
"Thiếu nữ Chăm" - Tượng đất nung của Đàng Năng Thọ. |
Khi bản nhạc "Khúc ban chiều" dịu buồn với cung điệu trầm nhất là khi ánh đèn bật sáng, tôi bỗng thấy đôi mắt Chăm to và dài từ góc vườn kia càng u hoài ẩn giấu một cõi gì đó mênh mông trong đêm tối. Không hiểu sao tôi lại ước gặp lại Đàng Năng Thọ một lần nữa như một sự sẻ chia, bởi lẽ tôi còn nhớ, sau bức "Tạ ơn" đoạt giải ba Triển lãm mỹ thuật toàn quốc thì vào cái đận 2004, anh có bức tượng "Người trầm tư" tham dự triển lãm Mỹ thuật Miền Đông Nam bộ. Anh nói mình đã mô tả bản thân trong cõi nhân sinh này. Bức tượng đã đoạt giải nhì (không có giải nhất). Giải thưởng chỉ là chuyện nhất thời, nhưng tác phẩm để lại, cùng với sự sống theo thời gian của nó mới là điều quan trọng của người nghệ sĩ. Tôi chưa có dịp ngắm nhìn "Người trầm tư" ấy. Chính vì điều đó mà tôi muốn gặp lại anh lần nữa, tại Ninh Thuận, nơi anh đang là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Chăm. Tôi coi đó là cuộc hội ngộ lần thứ tư với anh.
3. Một chuyến tàu từ Tp HCM đi suốt đêm đưa tôi về miền sa mạc cát mênh mông với Tháp Chàm Pô Rê Mê huyền bí đỏ au. Tôi hẹn trước và đã gặp Đàng Năng Thọ vào một buổi chiều đầu tháng mới rồi.
Một thoáng chợt nhớ, chợt quên. Đúng như tính cách Chăm, anh với một chút rụt rè ngơ ngác, rồi bất chợt như cái nắng của Ninh Thuận vậy, chói chang và nồng nhiệt, dang rộng vòng tay ôm lấy tôi, cùng với nụ cười ấm áp. Thế là chúng tôi hàn huyên đủ mọi thứ chuyện trên đời. Nào là chuyện anh được một ông già đầu hói kéo đi uống rượu sau khi xem bức tranh "Tế trâu" trong triển lãm hồi 1995. Anh cứ thế bỏ triển lãm mà đi theo, sau đó mới biết mình đang trò chuyện với giáo sư, nhà sử học Trần Quốc Vượng lừng danh. Anh giật mình e ngại, nhưng lại rất sung sướng vì có người đồng cảm với những tác phẩm của mình. Rồi còn chuyện ông Phan Đăng Nhật, người phát hiện ra anh, tạo mọi điều kiện để anh được học hành tử tế và trở thành một nghệ sĩ Chăm đích thực. Anh coi ông là người tái sinh ra anh trên con đường nghệ thuật vậy.
Lại nữa, chuyện nhà thơ Trần đăng Khoa còn nói, những bức tượng của anh là do bàn tay của ai đó trên trời làm nên, chứ không phải anh. Ngẫm ra, nhiều người thấy nhà thơ nói đúng, bởi lẽ chẳng ai như Đàng Năng Thọ, đã thức trắng hàng ngàn đêm để nhào đất dựng tượng với những hình dáng người Chăm đầy biểu cảm. Đó là những người mẹ, người cha, những chàng trai cô gái sống và lao động gần gũi thân thương cùng anh trong cái làng Bầu Trúc nghèo nàn này. Giờ đây, cánh tay anh đã tê dại vì những đêm lao động miệt mài đó. Hàng trăm bức tượng cùng với những ánh mắt sầu tư phiền muộn vây quanh anh, hiện lên như kiếp trầm luân bao đời nay của người Chăm.
Khi tôi hỏi bức tượng "Người trầm tư" nay ở đâu, Đàng Năng Thọ lắc đầu, lặng người bên bàn nước. Anh kể, cũng giống như bức "Luân hồi" sau khi dự triển lãm ở Ấn Độ, rồi mất hút, ban đầu "Người trầm tư" được Bảo tàng TP Hồ Chí Minh mua, nhưng hiện nay nó ở đâu thì anh cũng chẳng rõ, chỉ biết là không còn thấy nó được trưng bày ở bảo tàng nữa. Anh thừ người, tay chống cằm, cổ vươn về phía trước với ánh mắt nhìn về xa xăm. Tôi vội lấy máy ảnh chụp liên tục nhiều kiểu. Anh mỉm cười, nói đó là hình ảnh mà anh đang hóa thân vào hình tượng người nghệ sĩ Chăm đúng như tác phẩm của anh. Bức tượng miêu tả chân dung người nghệ sĩ ngồi trầm tư trước mọi nỗi đời, làm gì đây để sẻ chia với cộng đồng. Anh muốn nói với mọi người rằng, hãy suy nghĩ trước khi hành động, chứ đừng nói nhiều mà chẳng làm gì. "Người trầm tư" là triết lý của chính anh. Cái nét ghồ ghề và siêu thoát ấy đã hiện lên trong các bức phù điêu gắn liền với các tháp Chàm cổ rêu phong bao đời nay.
Tôi ngồi bên anh và trầm tư. Những câu thơ trong bài "Lễ tẩy trần" của Inrasara bỗng vang lên trong ký ức:
Quỳ gối trước mặt trời thức giấc mỗi sớm mai
tạ ơn chén cơm đói lòng, điếu thuốc hút dở
tạ ơn dòng sông mơ hồ chảy qua tuổi nhỏ
tên ngọn đồi, cánh rừng trong mơ chợt vang lên
tạ ơn bước chân hoang, trái tim lạc lầm…
Tôi chậm rãi đọc. Đàng Năng Thọ trầm tư lắng nghe. Lắng nghe và nhớ về một thuở gian nan với những nheo nhóc của bày con thơ dại, cùng người vợ hiền tần tảo trong những tháng năm nghèo đói xa xưa ấy…

