Người "nhà quê" viết truyện quê nhà

Thứ Năm, 31/10/2013, 08:00

Tôi và nhà văn Cao Năm có nhiều kỷ niệm trong cuộc đời làm báo. Đã có thời, từ năm 1995 đến khi ông về hưu (năm 2001), tôi là cộng tác viên "đầu mối" của ông trên Hà Nội, chuyên tập hợp bài vở gửi về cho tờ Hải Phòng cuối tuần, mà ông là trưởng ban. Lại có dịp tôi phát hành giúp một số tập truyện ngắn của ông. Hơn mười tập sách, ông toàn viết về những thân phận người nông dân thân thuộc. Kể cả những câu chuyện tình cũng không vượt khỏi lũy tre. Ông cười, tự nhận mình là người "nhà quê", chả dại gì mà lạc đường xa...

Nhà văn Cao Năm cho biết: Ngay truyện ngắn đầu tiên được in trên Báo Văn nghệ năm 1966, ông cũng xuất phát từ "Câu chuyện về một dòng mương" ở quê ông. Khi ấy ông đang làm việc tại trạm khí tượng vùng cao Bảo Lạc, Cao Bằng. Hai năm trước đó, Cao Năm đã tình nguyện rời quê Hải Phòng lên miền núi công tác. Anh chàng quê biển muốn có một cuộc sống lang bạt để tìm những cảm xúc mới lạ với những trải nghiệm… phi thường. Nhưng cuộc sống của một người chuyên đo đạc thời tiết, suốt ngày đêm chỉ gắn bó với mảnh vườn quan trắc đã đem đến cho Cao Năm nhiều suy tư trăn trở và khiến ông không lúc nào nguôi ngoai nhớ về quê nhà. Ông nhớ gió, nhớ nắng, nhớ mây… Rồi những đêm sương mù dày đặc càng làm ông nhớ tới những người thân yêu của mình, và ông cầm bút viết.

Lại nhớ, vào những năm tháng ấy, Cao Năm đã đọc không biết bao nhiêu tác phẩm văn học nước ngoài, cùng những tác giả trong nước. Nhiều tháng ông đã dành một khoản tiền lương đáng kể để mua sách. Ông xác định, thà chịu đói một chút còn hơn nhịn đọc sách hằng ngày. Cũng từ đó, Cao Năm trở thành cộng tác viên của các báo: Cao Bằng, Quân khu Việt Bắc và Báo Việt Nam độc lập của Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc. Đặc biệt, vào tháng 5 năm 1969,  nhà báo trẻ Cao Năm đã được Ban biên tập Báo Việt Nam độc lập xin về làm phóng viên. Có thể nói, cuộc đời làm báo chuyên nghiệp của Cao Năm bắt đầu từ đây. Và cũng từ đây, khả năng văn chương của Cao Năm lại càng được phát huy khi ông có dịp gặp gỡ các bạn văn trẻ như Hoàng Minh Tường, Vũ Duy Thông… Họ đã trở thành những người bạn cùng chí hướng. Hơn nữa, sau đó, cả nhóm còn làm việc với nhau khi Cao Năm được điều động về tòa soạn Báo Bắc Thái (năm 1976). Những truyện ngắn về quê hương của Cao Năm lần lượt ra đời. Hai năm sau, Cao Năm chuyển về công tác tại Báo Hải Phòng. Vậy là ông được trở lại quê hương sau 15 năm bám trụ vùng cao.

Nhà văn Cao Năm tâm sự: Càng đi xa, viết nhiều, ông càng thấy gắn bó với đề tài nông thôn. Về công tác tại một cơ quan báo chí, ông có thêm điều kiện đi thực tế để tìm hiểu đời sống của người nông dân. Đặc biệt, những câu chuyện ở chính quê ông (xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng) ngày càng khiến ông phải để tâm chú ý và đau đáu muốn được sẻ chia trên trang giấy. Hàng chục truyện ngắn và hàng trăm bài báo của nhà văn Cao Năm đã ra đời từ vùng quê này.

Nhà văn Cao Năm và vợ.

Nói vậy song cũng phải mãi gần hai mươi năm sau, Cao Năm mới cho in tập truyện ngắn đầu tiên: "Người ngoài họ" (NXB Hội Nhà văn, 1997), tiếp đó là tập "Tiếng vọng" (NXB Hải Phòng, 1998). Đến tập truyện ngắn thứ hai, Cao Năm đã định hình rõ phong cách một tác giả. Sau giải thưởng truyện ngắn Báo Văn nghệ năm 1995; giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 1998, đến năm 1999, Cao Năm được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Cao Năm tự nhận mình là người rất mê nghệ thuật viết truyện vừa hiện thực vừa lãng mạn của nhà văn Ma Văn Kháng, nhưng thấy mình không theo được. Khi viết, ông thường lệ thuộc vào những diễn biến của hiện thực diễn ra trong đời sống. Ông cũng say văn Tô Hoài, và mê giọng văn thâm trầm, ấm áp và sâu sắc của Bùi Hiển. Ông luôn lấy đó làm "điểm tựa" khi viết, mặc dù như ông nói, ông luôn bị ràng buộc bởi những diễn biến trong thực tiễn, nên viết chậm lắm.

Hầu như các nhân vật trong truyện ngắn của Cao Năm đều được ông lấy nguyên mẫu từ những người dân quê ông. Vì quá nệ hiện thực nên - dù hiện thực sinh động đến đâu chăng nữa - ông vẫn thấy văn mình ít bay bổng. Tất cả chỉ vì thiếu sự dồi dào của hư cấu. Chính vì lẽ đó, khi triển khai viết cuốn tiểu thuyết "Bão đồng" (NXB Quân đội nhân dân, 2008), ông đã phải mất 25 năm mới hoàn thành. Ông kể, ông theo đuổi đề tài "Tam nông" ở quê mình ngay từ đầu, vào năm 1982, bắt đầu là những ghi chép về các nhân vật trong huyện, trong làng, từ người nông dân đến cán bộ để tích lũy dần hiện thực và mọi diễn biến theo từng năm, để viết. Ông có ý tưởng muốn xây dựng một tác phẩm dài hơi, phản ánh bức tranh hiện thực của quá trình đấu tranh khốc liệt về hành động và tư tưởng trong sự chuyển đổi thực hiện khoán sản phẩm của các hợp tác xã nông nghiệp. Nhưng chính vì lệ thuộc quá nhiều vào thực tế, đã không ít lần Cao Năm phải gác bút chờ đợi hay phải viết lại nhiều phần để cho sát với cuộc đời nhân vật hơn. Ông muốn ghi lại không khí hiện thực sinh động trong "đêm trước" của quá trình đổi mới cơ chế nông nghiệp, nhưng rồi sự quá thận trọng, quá nệ hiện thực đã lấy đi của ông nhiều sức lực và thời gian.

Cho dù đến nay, đã có nhà phê bình coi "Bão đồng" của Cao Năm là cuốn tiểu thuyết khá hấp dẫn, với các nhân vật điển hình như Đội trưởng kiêm Bí thư chi bộ Điền, hay Bí thư huyện Nguyễn Thanh Cải… Tuy nhiên, có người lại chê trách tác giả bởi sự dàn trải của hiện thực được phản ảnh qua 475 trang in.

Lý giải về điều này, Cao Năm cho rằng, cũng vì ông phải chờ đợi cho đến mãi sau này xem một trong những "nguyên mẫu" của mình kết cục thế nào, rồi mới viết bổ sung cho hoàn chỉnh. Cuốn tiểu thuyết kéo dài 25 năm phải chắt chiu như vậy, quả chưa phải là cách làm việc đắc sách cho một tác giả tiểu thuyết. Tuy nhiên ông lại cho tạng viết của mình là vậy. Quen mất rồi. Ông trung thành với một phương pháp sáng tác tôn trọng hiện thực, phản ánh đúng bản chất của nó, không thể bịa tạc. Ông hóm hỉnh: "Người nhà quê tớ thế, không ăn gian được".

Nhà văn Cao Năm khoe, ông vừa mới hoàn thành xong cuốn tiểu thuyết thứ hai: "Hải Phòng mùa đông 1946" nói về tình cảm của Bác Hồ với nhân dân Hải Phòng và của nhân dân Hải Phòng đối với Người. Đây cũng là đề tài ông ấp ủ hơn 20 năm qua, và chính thức bắt tay vào viết cách đây mấy năm, với không ít lần sửa đi sửa lại, mặc dù sách chỉ dày hơn 200 trang. Như Cao Năm quan niệm, nhà văn phải lao động như một nông dân chính hiệu, cần mẫn và yêu thương "cánh đồng hiện thực" của mình.

Cuối buổi trò chuyện, Cao Năm tặng tôi tập truyện ngắn mới nhất vừa được NXB Văn học ấn hành quý III năm 2013 - cuốn "Chuyện bây giờ mới kể", gồm 36 truyện ngắn chọn lọc mà ông tâm đắc nhất. Tôi hỏi vui: "Có chuyện nào về cô gái ở miền quê khác không đấy?". Cao Năm cười hề hề: "Toàn chuyện quê tớ. Với lại, huyện mình còn ối chuyện, đã viết hết đâu. Nhất là có những cô ham một cuộc sống thiên đường ở xứ người, bị lừa ôm con trở về, nợ nần chồng chất, thương lắm…".

Trước khi chia tay nhà văn Cao Năm, tôi ngỏ ý chụp vài tấm hình để làm kỷ niệm nhân dịp ông bước sang tuổi 74. Mới chỉ nghe tôi nói vậy, Cao Năm đi nhanh sang nhà hàng xóm tìm bà xã về để chụp đôi. Ông nói: "Chả mấy khi hai vợ chồng chụp ảnh cùng nhau. Nếu lần này hình đẹp, tôi sẽ gửi về quê cho các cháu". Khi bà xã của Cao Năm xin phép rửa tay vì đang thái bèo, nhà văn lẩm bẩm: "Chụp mặt chứ có chụp tay đâu mà lo", rồi chỉ cho bà đứng chỗ này, chỗ khác để tôi chụp mấy kiểu liền. Ông cười đôn hậu và nhìn vợ với ánh mắt ấm áp như ngày nào hai người mới đến với nhau. Giờ thì cả hai đều đã vào tuổi xưa nay hiếm. Nhìn ông khấp khểnh kéo tay vợ đứng lại gần mà tôi ứa nước mắt. Thật là một hình ảnh thân thương của đôi vợ chồng "nhà quê"

Vương Tâm
.
.
.