Nghiêng tai dưới gió

Thứ Hai, 09/10/2006, 14:15

Lại thêm một chuyến điền dã nữa. Trước khi đi, nhà thơ Lê Giang cẩn thận nhờ một bạn văn chuyển đến tặng tôi tập sách vừa mới in của bà; cuốn sách có cái tựa nhẹ nhàng theo đúng phong cách của nhà thơ: “Nghiêng tai dưới gió”. Dưới gió; là gió dưới bầu trời mênh mông này hay là gió dưới mái hiên “vườn treo” của bà (?!).

Có lẽ đằng nào cũng đúng, đằng nào cũng là một thứ gió hào phóng, cuốn bước chân, nâng tâm hồn, mà Lê Giang từng yêu thích, ước mơ. Trộm nghĩ, đọc tạp văn của Lê Giang cũng là được rong chơi cùng những ngọn gió. Không phải gió loạn, mà nhẹ êm, mát lành. Cùng với những ngọn gió ấy, chúng ta có cảm giác được sống trong những khoảnh khắc yêu thương, hạnh phúc nhất. Viết tạp văn mà chạm được vào cảm giác là tài hoa..

Nhưng, đối với Lê Giang, hình như bà không có cái khái niệm tài hoa. Đối với bà lúc này: “Viết là uống sinh tố, viết là tránh loãng xương tuổi già. Viết là rắc nước thánh lên ngực mình, viết là kéo dài từng trang viết thật” (Tháng 6 trên “vườn treo”). Viết là ráo riết theo tiếng gọi của trái tim. Với Lê Giang đó là muôn vàn câu chuyện nhân gian: cũ, mới; lớn, bé; đậm, nhạt v.v…

Những câu chuyện nhân gian đó bao giờ cũng gắn với hai chữ: nhân tình. Có gì cao siêu đâu, chỉ một câu chuyện xung quanh “công thức chế biến” món mít non hầm mà Lê Giang miêu tả bao nhiêu mặt người, tính cách, tâm trạng. Cái đọng lại của bài tạp văn ấy, không chỉ là dư vị của món mít non hầm, mà còn là vẻ đẹp của sự chân tình trong mỗi người dân quê. Mà, một bữa giỗ ở quê với món mít non hầm làm “món chủ đạo” nghĩ cũng lạ.

Cái lạ này gây cho tôi một cảm giác khá tò mò, phải đọc hết bài tạp bút “Mít non hầm”. Phải công nhận là Lê Giang viết rất khéo, đọc đến đoạn cao trào, chợt ước chi mình có dự cái đám giỗ đó, nếu không được ăn thì cũng được no nê… cái nhìn. Dường như trong cái mùi của món ăn dân dã đó còn có cả cái thơm thảo, hồn nhiên của tâm hồn miệt vườn. Những người ít khi nói chuyện luân lý mà hành xử rất ra đạo con người.

Nhà thơ Lê Giang là người nổi tiếng đi nhiều. Cùng với chồng là nhạc sĩ Lư Nhất Vũ, hai người “réo” thêm mấy bạn già, bạn trẻ nữa đi sưu tầm ca dao, dân ca. Vượt đèo, lội suối, lội ruộng, băng đồng, Lê Giang đi cùng những ngọn gió, để tìm những lời hát phiêu diêu trong gió, những lời hát mộc mạc tự cất lên trên đôi cánh tâm hồn của những người nông dân chân trần gốc rạ. Mộc mạc, mà mê đắm; dịu êm mà thấm thía bao nổi nênh đời người.

Lê Giang “khoái” cảnh quê, người quê; nhà ở chung cư phố trung tâm, sát rạt bên siêu thị nhưng lại thích đi chợ; nấu món ăn thì món nào cũng đượm mùi vị quê hương. Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thật tinh tế khi khám phá ra cái thú đi chợ của Lê Giang: “Cư ngụ tại thành phố hoa lệ đã lâu, mỗi lần đi chợ, Lê Giang vẫn thích la cà cùng các em các cháu, nơi có những tiếng chào mời trở thành một phần của đời sống tình cảm: “Ngoại ăn kèo nèo đi ngoại. Con mới nhổ hồi sáng. - Má ăn cá chốt giấy kho tiêu đi má. Cá còn tươi, rộng nước sông Sài Gòn nè má. - Dì năm làm mớ rau ngổ về luộc “trần” đi, dì Năm”…

Rõ ràng, Lê Giang đi chợ không chỉ để mua, mà còn để nghe, để ngắm. Ngắm cái sàng rách bung vành đựng mớ đọt nhãn lồng, rau đắng, dền gai, mớ rau dệu nhám nhám bùi bùi, những loại rau đọt mà chị âu yếm bảo “những loại rau không ở trong nhà kính” - những loại rau mọc ở bờ bụi, sông hồ, mương rạch, ao chuôm, ruộng đồng - nơi chị tắm mình trong không khí thân quen ấu thơ và sau này chị hít thở nó khi lặn lội qua những nẻo đường dân ca diệu vợi” (trích lời tựa của Nguyễn Nhật Ánh).

Chuyện đi chợ của Lê Giang thú vị là thế, còn chuyện nấu bữa ăn của hai vợ chồng Lê Giang xem ra càng thú vị hơn: “ảnh về cũng không trễ tràng gì. Ảnh “lý vo gạo”, tôi “lý con cá trê” với rau đắng đất, với nước mắm gừng. Trong khi chờ cơm chín, ảnh thảy xấp báo lên bàn. Tôi vội tìm ông Dido hôm nay buồn vui ra sao, cái kiếng cận của ông đã trễ xuống tới đâu rồi. Còn ông Alfred Riedl có lầm bầm gì niềm hy vọng với từng cơn sóng biển Nha Trang”… (Thẳng thét một ngày anh và tôi).

Theo tôi, trong tạp văn của Lê Giang, ngoài những tâm tình chân chất bộc lộ thẳng thắn với cuộc đời, thì người đọc thỉnh thoảng lại được “gắp” thêm một món đặc sản, đó là những câu ca dao, hò vè, lý… mà Lê Giang trích dẫn, cài đặt trong bài viết của mình. Đọc cái tạp văn “Chuyện kể nửa chừng” có thể chỉ còn nhớ đại khái, hoặc quên ráo trọi, nhưng có hai câu ca dao thì rất cắc cớ, tỉnh bơ nằm trong bộ nhớ: “Rau răm đất cứng, dễ bứng, khó trồng/ Dù thương cho lắm cũng chồng người ta”. Lê Giang quả chí lý khi cho rằng: “Ca dao của ông cố ông sơ mình là những câu kinh của đạo làm người!”.

Ca dao cũ mà luôn mới. Cũng như gió; gió muôn đời vẫn là gió, nhưng đã là gió thì luôn luôn mới”. Tôi nghĩ, ca dao, hò vè, lý… chính là những chất dẫn và tạo hiệu ứng đáng kể để Lê Giang viết văn, làm thơ. Khi chất liệu dân gian đó càng thấm thì sáng tác của nhà thơ càng thăng hoa, sâu sắc, tinh tế

Việt Trần
.
.
.