Múa đương đại Việt Nam: Đường trường đơn độc?
Sau hơn 20 năm nghệ thuật múa đương đại du nhập vào Việt Nam, những nghệ sĩ theo đuổi múa đương đại dường như vẫn đang "đường trường đơn độc" bởi những khó khăn trong việc tiếp cận với khán giả.
"Việt Nam những năm 70" là dự án nghệ thuật do nghệ sĩ múa Lê Vũ Long - một người có thâm niên và đầy tâm huyết với múa đương đại làm giám đốc. Đây là một trong 8 dự án nghệ thuật đương đại được Quỹ trao đổi Văn hóa Đan Mạch - Việt Nam (CDEF) tài trợ trong năm 2013. Với các tác phẩm: "Không gian gốc" của Quách Hoàng Điệp, "Bến đợi" của Nguyễn Dũng, "7X" của Trần Ly Ly, "Tế bào" của Quách Phượng Hoàng - là những tên tuổi quen thuộc với khán giả thích tìm hiểu về nghệ thuật múa đương đại - đã đưa đến cho khán giả một cách nhìn sâu sắc, mỹ học về những năm 70 của thế kỷ trước.
Bằng những chuyển động tinh tế, nhạy cảm kết hợp với âm nhạc hiện đại, các tác phẩm đã kể cho khán giả câu chuyện ký ức đã có những tác động không nhỏ đối với đời sống riêng của mỗi cá nhân. Đây là lần thứ 2 đoàn múa "Nơi đến" thực hiện dự án dạng này. Trước đó, vở múa mang tên "Ký ức thở dài" do nghệ sĩ múa Lê Vũ Long dàn dựng đã ra mắt công chúng vào cuối năm 2009 và gây được ấn tượng đậm nét với công chúng ở Festival Huế năm 2010.
Lê Vũ Long là một nghệ sĩ gắn với múa đương đại từ rất sớm. Các tác phẩm múa đương đại của anh như "Nơi đến", "Mắt bão", "Thấu truyền", "Ba mặt một lời", "Ký ức thở dài"... không những được một bộ phận khán giả trong nước quan tâm mà nó còn là những tác phẩm theo chân các nghệ sĩ của đoàn múa "Nơi đến" do anh thành lập năm 2002 đi biểu diễn ở một số nước Âu, Mỹ...
Chia sẻ về khó khăn trong việc tiếp cận với khán giả Việt, trong đó có khán giả trẻ, nghệ sĩ Lê Vũ Long cho hay: "Việc bán được vé trong các chương trình múa đương đại là rất khó khăn. Các chương trình được dàn dựng, biểu diễn chủ yếu là do chúng tôi tìm kiếm được tài trợ từ các quỹ hợp tác văn hóa nước ngoài. Một trong những yêu cầu của họ là tạo cơ hội cho người Việt được tiếp cận nhiều hơn với múa đương đại nên chúng tôi cũng không đặt ra vấn đề về doanh thu...". Có nghĩa là, nếu phải tính toán đến vấn đề cân đối thu chi, sẽ rất khó khăn để một vở múa của Lê Vũ Long đến được với khán giả, nhất là sau khi anh rời Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam vì cảm thấy ở đó sở trường của mình không có "đất dụng võ".
|
|
Vở múa “Sương sớm” của biên đạo Tấn Lộc được giới làm nghề đánh giá cao nhưng vẫn khó để tiếp cận khán giả. |
Có một thời gian, nghệ sĩ Lê Vũ Long như một người lữ hành đơn độc trên đường trường khi anh cùng với đoàn múa của mình vượt qua những khó khăn, trở ngại để duy trì, phát triển nó cho đến khi nó được các Quỹ văn hóa nước ngoài "hậu thuẫn" về mặt tài chính để xây dựng những chương trình mang tính cộng đồng cao như đã nói ở trên.
Theo một số nghệ sĩ múa có thâm niên, múa đương đại lần đầu tiên đến Việt Nam là năm 1988. Khi đó các nghệ sĩ múa Việt Nam vốn chỉ mới quen với múa balê hoặc dòng múa dân gian dân tộc đều rất ngạc nhiên, tò mò và thích thú với loại hình múa mang ngôn ngữ mới này. Sau năm 1990, một số tác phẩm như "Bến lụy" của NSND Anh Phương, "Bên dòng Lô năm xưa" của NSND Nguyễn Công Nhạc hay "Mẹ mặt trời" của Xuân Thanh là những bước đi thử nghiệm đầu tiên của các biên đạo múa trong nước đối với loại hình này. Nhưng "cú hích" thực sự để tạo ra một dòng chảy múa đương đại âm thầm mà quyết liệt như hôm nay đó chính là các chương trình biểu diễn của biên đạo Việt kiều Pháp Easola Thủy. "Hạn hán và cơn mưa 1", "Hạn hán và cơn mưa 2", "Thế đấy, thế đấy" khi mới ra mắt ở Nhà hát Lớn Hà Nội đã thực sự tạo ra một "cú sốc văn hóa" cho nhiều người. Người khen ngợi, người chê bai và có cả những ý kiến kỳ thị.
Qua nhiều năm tháng, khán giả cũng đã phần nào hiểu hơn, có cái nhìn thiện cảm, hào hứng hơn đối với nghệ thuật múa đương đại. Tất nhiên, thói quen thưởng thức loại hình này vẫn chưa có. Người ta ít nhiều hào hứng với các liveshow "Vũ", "Sen" của nghệ sĩ trẻ Linh Nga, nhưng với vở múa "Sương sớm" của biên đạo trẻ Tấn Lộc, dù được giới chuyên môn đánh giá rất cao về mặt nghệ thuật thì nó cũng chỉ có thể được giới thiệu một đêm duy nhất ở Hà Nội, mà lại là ở rạp... Công nhân.
"Sương sớm" là một vở múa đương đại nhưng vẫn mang tính dân tộc khá đậm nét. Tác phẩm kể lại câu chuyện về một buổi sáng trong sương sớm của người nông dân với những công việc thường ngày quen thuộc như ra đồng, xay gạo, chuẩn bị phiên chợ sớm... được tái hiện bằng ngôn ngữ múa trong không gian âm nhạc đậm chất dân gian với trang phục, đạo cụ mộc mạc, giản dị, quen thuộc của người dân quê. "Sương sớm" tuy chưa tiếp cận được với công chúng rộng rãi, song với những người làm nghề, đây thực sự là một tín hiệu vui, mang lại niềm hy vọng, cổ vũ cho một số biên đạo múa trẻ đang thử nghiệm hoặc dấn thân vào "ngõ hẹp" này.
Theo NSND Anh Phương, sở dĩ múa đương đại có sức hút mạnh đối với nghệ sĩ, biên đạo múa trẻ bởi nó gần gũi về đề tài, có sự giải phóng cơ thể tốt, mang đến hơi thở mới, nhận thức mới về nghệ thuật múa và đặc biệt là dễ tạo ra một dấu ấn mang bản sắc riêng của người sáng tạo. Bộ môn múa đương đại hiện đã được đưa vào giảng dạy trong một số trường nghệ thuật như Cao đẳng nghệ thuật múa Việt Nam, Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội, Cao đẳng Múa Tp HCM là một tín hiệu rất đáng mừng. Nhưng làm sao để nó có chỗ đứng thực sự trong đời sống văn hóa, trong lòng khán giả, thì câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ.
|
Nghệ sĩ múa Lê Vũ Long:
Chúng tôi chú ý tới những năm 70 của thế kỷ trước vì nó là một giai đoạn quan trọng, đánh dấu những thay đổi to lớn về nhiều mặt, trong đó có lịch sử, văn hóa, xã hội và con người. Với mục đích giới thiệu một dòng chảy của nghệ thuật múa đương đại, chúng tôi mong muốn đóng góp thêm sức mình để mang đến cho công chúng cái nhìn đúng đắn thế nào là múa đương đại. Bằng nỗ lực của mình, chúng tôi mang đến cho khán giả những tác phẩm mới lần đầu ra mắt của các tác giả đương đại Việt Nam và tiếp tục xây dựng những dự án tương tự trong những năm tiếp theo. "Việt Nam những năm 70" hướng tới việc mang đến cho công chúng một ngôn ngữ nghệ thuật đương đại thực sự. Thật buồn khi múa đương đại Việt Nam trong khi chưa có chỗ đứng vững chắc trong lòng công chúng tại Việt Nam thì đã kịp "biến tướng". Những năm 90 của thế kỷ trước, khi đại bộ phận chúng ta còn e dè với đương đại, thì nay từ đương đại lại được áp dụng thiếu cẩn trọng, với tần suất dày. Người ta hay "gá" vào đó các cụm từ kiểu như "múa dân gian đương đại". Theo tôi đó là cách nói lập lờ, không chính xác. NSND Nguyễn Công Nhạc:
Khoảng mươi năm trước, trên các báo có rất nhiều bài viết của các "chuyên gia" chê bai, vùi dập múa đương đại lúc ấy còn non trẻ, đang cần được nâng đỡ, động viên. Nhưng dạo này tôi thấy người ta cũng "bớt mồm" đi, hoặc là đã nói... nhỏ lại. Phải thừa nhận nghệ thuật múa đương đại đã đem đến cho chúng ta một làn gió mới với những cảm nhận mới, phong cách thể hiện mới, tươi mát hơn, trẻ trung, hiện đại hơn. Tất nhiên, không có cái gì mới được đón nhận ngay đâu, nó phải trải qua thử thách. Khi "cánh trẻ" nhận thấy giá trị đích thực của múa đương đại, muốn theo đuổi, dấn thân và hy sinh vì nó thì là một điều rất đáng mừng. Nếu không quảng bá được giúp họ thì cũng đừng quay lưng, ngoảnh mặt hay vùi dập họ. Đi xem chương trình "Việt Nam những năm 70" của Lê Vũ Long, với tư cách của người làm nghề, tôi rất vui, xúc động, tự hào bởi vì thấy các em không vì thấy khó mà bỏ cuộc hoặc xoay ra làm những thứ nửa nạc nửa mỡ mà người ta hay gọi là "múa hiện đại". Tôi cho rằng, múa đương đại Việt sẽ có tương lai, với sự trưởng thành của một đội ngũ các nghệ sĩ trẻ như Tấn Lộc, Quách Hoàng Điệp, Trần Ly Ly... |
