Một chặng đường văn học về đề tài an ninh trật tự

Thứ Hai, 08/08/2005, 07:54

Trong những tác phẩm kịch của nhà văn Hữu Ước tham gia Giải thưởng văn học đề tài an ninh - trật tự xã hội 10 năm (1995-2005), các xung đột được triển khai cho ta thấy đủ loại biến tướng của tội ác, tội lỗi. Đó không chỉ là chuỗi sự kiện đối nghịch, nó đượm đà hơi thở cuộc sống chân thật còn lắm đa đoan hệ lụy.

Giải thưởng văn học đề tài an ninh - trật tự xã hội 10 năm (1995-2005), theo thể lệ, có đối tượng xét giải là các tác phẩm thuộc các thể loại: tiểu thuyết, ký, truyện ngắn, thơ và kịch.

Điều dễ nhận thấy ngay là, trong khi truyện ngắn và thơ với số lượng tác phẩm gửi đến dự giải vừa ít ỏi, vừa do chưa tìm được cách tiếp cận một đề tài có đặc thù riêng nên chưa thỏa mãn những yêu cầu về thể loại, thì tiểu thuyết, tiểu thuyết tư liệu, truyện ký và kịch là những thể tài văn học chiếm vị trí ưu trội cả về số lượng lẫn chất lượng.

Trước hết, có thể nói ngay rằng thể tài tiểu thuyết tư liệu và truyện ký vốn là sở trường của văn học về đề tài này. Chúng có một bề dày truyền thống, chúng họp thành một dòng sách có diện mạo riêng, do thể hiện được một lợi thế hiếm có. Lấy nhân vật người chiến sĩ công an làm hình tượng trung tâm, những tác phẩm này mô tả trực tiếp cuộc đấu tranh giữ gìn nền an ninh của Tổ quốc và sự bình yên của cuộc sống nhân dân - cuộc đấu tranh nếu không phải là tất cả thì có thể nói là còn không ít đang còn ở trạng thái ngầm ẩn, khuất lấp, chưa lộ diện, do hoàn cảnh và nhu cầu thời cuộc, có khi vĩnh viễn chìm trong quên lãng.

Để sáng tác, nhà văn cần chất liệu. Và chất liệu, tức cuộc đấu tranh đa phần còn chưa được nhiều người biết tới như vừa nói, là một lợi thế đặc biệt của các sáng tác ở khu vực đề tài này. Sự mới mẻ của chất liệu, sức hấp dẫn tự nhiên của cái lạ, nhiều khi là nhân tố thành công của một tác phẩm văn học.

Tuy nhiên, để dựng lại cả một câu chuyện có đầu cuối, để làm sáng tỏ những sự kiện then chốt, để vẽ nên cả một bức tranh sống động với đầy đủ màu sắc, âm thanh, ảnh hình, ngôn ngữ, phong tục… thì công việc lúc này đã trở nên không hề đơn giản dễ dàng. Phải cần đến cả ngàn vạn chi tiết sinh động mang hơi thở cuộc đời. Phải cần đến sự sống phập phồng ở mỗi chữ, mỗi câu. Phải làm cho toàn bộ câu chuyện lấp lánh trong một chủ đề tư tưởng đẹp đẽ, thiêng liêng… Và đó chính là một thử thách lớn mà nhiều cây bút tài năng ở đợt Trao thưởng 10 năm lần này, đã vượt qua, với nhiều tác phẩm được bạn đọc khen ngợi.

Một số tác phẩm được đưa vào chung khảo Giải thưởng văn học đề tài an ninh - trật tự xã hội 10 năm (1995-2005).

Trước hết, có thể kể đến những tiểu thuyết, tiểu thuyết  tư liệu, truyện ký đã lọt qua vòng sơ khảo. Đó là: “Đêm yên tĩnh” của Hữu Mai; “Yêu tinh” của Hồ Phương; “Một thế giới không có đàn bà” của Bùi Anh Tấn; “Bức thư giải oan” của Trần Diễn; “Hồ sơ một tử tù” của Nguyễn Đình Tú; “Kẻ ám sát cánh đồng” của Nguyễn Quang Thiều; “Phía sau một cái chết” của Võ Duy Linh; “Miền thao thức” của Bạch Lê Vân Nguyên; “Bóng dáng hạnh phúc” của Phan Đức Nam; “Tiếng nổ trên chiến hạm Amyot D’inville của Văn Phan; “Đội đặc nhiệm TK1” của Phan Văn Lợi; “Phạm Xuân Ẩn, tên người như cuộc đời” của Nguyễn Thị Ngọc Hải; “Điệp báo thành Huế” của Trần Đình Bảy; “Ngọn nến” của Trần Tử Văn.

Nặng nhẹ khác nhau về dung lượng, chất liệu, nhưng những cuốn sách trên đều là những tác phẩm văn học nghiêm túc, được viết một cách công phu, kỹ lưỡng, thể hiện một khuynh hướng thẩm mỹ đậm đà chất lý tưởng.

Không giấu giếm chủ đề có tính xã hội và xu hướng chính trị mạnh mẽ, dứt khoát - một đặc tính của văn học khu vực đề tài này, nhưng đó cũng chính là những tác phẩm được sáng tác theo quy luật của sự sáng tạo cái đẹp. Thoát ra khỏi các sáo ngữ, để khuynh hướng toát ra từ tình huống, nhiều trang sách của các tác giả thật sự là sản phẩm những rung cảm sâu sa của con tim, gần gụi với những tình cảm tự nhiên cao quý.

“Phạm Xuân Ẩn, tên người như cuộc đời” là một ví dụ. Cuốn sách được dư luận đánh giá cao, vì một mặt tác giả đã hết mực trung thành với nguyên tắc của thể loại truyện ký  tư liệu là coi trọng tính xác thực của tư liệu, hạn chế đến mức thấp nhất những hư cấu sáng tạo, trình bày một hiện thực như nó vốn có. Mặt khác, quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định với giá trị tác phẩm, đó chính là chan chứa trong mỗi trang viết là những biểu hiện của một năng lực cảm nhận, một phẩm chất thẩm mỹ, phẩm chất văn hóa của người viết.

Nhờ đó mà có sự kết hợp tài tình các thủ pháp nghệ thuật, đặc biệt là lối hành văn, vừa dồi dào tình cảm vừa sắc bén, giàu tính triết mỹ. Nhờ đó mà hiện lên sau những trang chữ là hình ảnh được phóng chiếu về một chiến sĩ tình báo, sau này được biết ông là thiếu tướng tình báo của ta được cài cắm ở vùng địch, sống cuộc đời lưỡng diện đầy  hiểm nguy mà vẫn ung dung tự tại một cốt cách riêng, để lại trong lòng bạn đọc một ngưỡng mộ vừa sâu sắc vừa bâng khuâng.--PageBreak--

Tội ác, thế giới ngầm với các tệ nạn đang phá phách làm rối loạn cuộc sống chung, đang gây nên bao bức bối ức chế cho cộng đồng, cũng là một hướng truy kích của các tiểu thuyết hình sự được viết theo các hướng: hoặc gia thêm màu sắc tâm lý xã hội, hoặc đơn thuần chỉ là chuyện vụ án với nhân vật thám tử, điều tra viên đơn lẻ hành động tiếp nối hành động.

“Hồ sơ một tử tù”, là một cuốn sách viết về lĩnh vực này, nhưng không dừng ở sự miêu tả tội ác bề ngoài sự kiện. ở đây, cái ác được truy đuổi cấp tập, kiệt cùng, qua sự tự thú của lương tâm. ở đây cái ác được hiểu như là khoảng tối tăm phản trắc trong con người, giống như một nghiệp chướng ám ảnh, là cái mặt bên kia của sự phân thân, trong quá trình tha hóa, được hóa giải như một hiện tượng bệnh lý của con người, của xã hội.

Cũng viết về đề tài này, cuốn “Một thế giới không có đàn bà” có một lối đi riêng, khá mới mẻ. Khám phá bí ẩn về một cái chết, tác giả tỏ ra rất công phu trong việc khai thác, miêu tả và lý giải một hiện tượng bệnh hoạn xã hội mới - hoạt động của thế giới pêđê - đồng tính luyến ái, một bi kịch thê thảm của con người. Tác phẩm mang một lời cảnh báo xã hội có ý nghĩa sâu sắc.

Cuối cùng, việc nhận diện chặng đường văn học vừa qua, sẽ là thiếu sót và trở nên vừa không công bằng vừa phiến diện nếu cuộc trao giải thưởng lần này không có sự tham gia của thể tài kịch - một trong ba loại hình văn học, bên cạnh tự sự và trữ tình; ở đây là kịch bản văn học (sân khấu và điện ảnh) vừa là cơ sở đầu tiên của vở diễn, của  bộ phim, vừa với tư cách là tác phẩm được cảm thụ bằng việc đọc.

Bởi vì, lâu nay mặc cho sự quên lãng của các ban giám khảo, kịch về đề tài này vẫn phát triển rầm rộ. Bởi vì, nếu như cơ sở của kịch là những mâu thuẫn xã hội, lịch sử hoặc những xung đột muôn thuở của con người, thì khu vực đời sống này chính là một trong những nơi tập trung cao độ các xung đột, mâu thuẫn đó.

Lọt qua vòng sơ khảo đợt trao giải thưởng lần này là bốn tác phẩm và cụm tác phẩm của bốn tác giả. Đó là kịch bản “Vòng xoáy”, “Vòng vây cô đơn”, “Vòng đời”, “Quả báo”, Khoảnh khắc mong manh”, “Sếp rởm” của Hữu Ước. Là kịch bản “Đám cưới đêm mưa” của Xuân Cải. Và là kịch bản điện ảnh “Những kẻ giấu mặt” của Xuân Hải và “Bí mật những cuộc đời” của Nguyễn Như Phong.

Khơi nguồn từ các hoạt động nghiệp vụ của chiến sĩ công an trong các câu chuyện hình sự, bổ sung những khoảng trống vắng bằng vốn sống tích lũy lâu dài, dồn nén kết tinh thành những tình huống, tính cách nhân vật, nâng cao tầm vóc chủ đề tư tưởng, nhiều tác phẩm đạt được hiệu quả cao ở sức thu hút lôi cuốn người đọc, không chỉ nhờ giữ được sự tò mò dõi theo các yếu tố ly kỳ lạ lẫm mà còn ở sự vận dụng thành thạo các thủ pháp nghệ thuật kịch, mà quan trọng là triển khai kịch tính của câu chuyện.

“Những kẻ giấu mặt”, “Bí mật những cuộc đời” có thể là những ví dụ tiêu biểu. Tất nhiên, kịch tính được hiểu như là một đặc tính tinh thần của con người do các tình huống gay cấn gây nên, khi những điều thiêng liêng như lẽ phải, công lý, đạo đức bị xâm phạm, chỉ được phát huy cùng với một phẩm chất văn chương nhất định.

Ở cụm tác phẩm gồm 6 vở kịch của Hữu Ước, các xung đột được triển khai cho ta thấy đủ các loại biến tướng của tội ác, tội lỗi, từ những biểu hiện có thể nhìn thấy cho tới những ngầm ẩn kín đáo sâu xa bên trong, phải nhờ cái nhìn nhân văn của một năng lực cảm nhận mới thấu suốt được, và vở kịch không chỉ là chuỗi sự kiện đối nghịch, nó đượm đà hơi thở cuộc sống chân thật còn lắm đa đoan hệ lụy.

Mười năm, một chặng đường đáng kể của văn học đề tài này. Nhận diện nó thật không dễ, nên những nhận xét trên đây xin chỉ được coi là những ý kiến rất sơ lược và chủ quan của một cá nhân, một người đọc, một người đọc được chỉ định. Kể cả ý kiến sau cùng đây nữa. Đề tài này hiện vẫn gần như chỉ là mảnh đất tung hoành của các lão trượng trong làng văn, các cây bút trẻ tham gia còn thưa thớt lắm. Vì sao? Vì sức hấp dẫn kém cỏi của nó? Hay từ nó, từ đề tài này, để vươn tới trở thành một tác phẩm văn chương đích thực - một mong mỏi lớn lao của hiện tình - là một con đường xa xăm, đầy trắc trở, ngại ngùng?

.
.
.