“Mâm đan, bát đàn” trong văn hóa Quan họ
Vậy "Mâm đan, bát đàn" là gì?
Trong cuốn "Không gian văn hóa Quan họ" do ông Lê Danh Khiêm chủ biên - Trung tâm Văn hóa - Thông tin tỉnh Bắc Ninh xuất bản năm 2007 có mục "Văn hóa hành vi trong buổi mời bạn xơi "cơm Quan họ" ( trang 95). Ông Khiêm khẳng định, đã là "cơm Quan họ" là phải "mâm đan, bát đàn" và giải thích: Mâm đan là chiếc mâm tròn, làm bằng gỗ, sơn đỏ (đan nghĩa là đỏ).
Truyền rằng, trong mặt trăng có một cây quế đỏ cao tới năm trăm trượng. Dưới gốc cây luôn có một người ngồi đẵn. Người ấy là Ngô Cương, vốn ở đất Tây Hà, học được phép tiên, bay lên trời. Sau vì có lỗi nên Ngô Cương bị Ngọc Hoàng đại đế phạt, bắt phải chặt được cây đan quế ở cung trăng. Nhưng Ngô Cương đẵn đến đâu thì trời lại hóa phép làm cho liền ngay đến đấy.
Vì thế suốt đời Ngô Cương phải ngồi ở cung trăng để đẵn cây đan quế. Do tích này mà dân gian cũng như văn cổ thường dùng các hình tượng như bóng quế, cung quế, đan quế để chỉ mặt trăng…
Ngô Cương luôn phải đẵn cây đan quế, mà chị Hằng thì ngày ngày mang đến cho Ngô Cương cơm ăn, nước uống. Đó là sự gắn bó nam nữ không biết là qua bao nhiêu nghìn năm. Chính từ hiện tượng này, mà người Quan họ luôn dùng "mâm đan" (mâm gỗ đỏ) để làm cơm thết bạn, biểu hiện tình cảm, tình yêu bền chặt giữa những người Quan họ với nhau.
Bát đàn, nguyên thủy là bát được tiện bằng gỗ cây bạch đàn. Truyện phổ biến ở vùng Quan họ kể, sau khi Trương Chi mất, hồn chàng nhập vào một cây bạch đàn. Quan thừa tướng vô tình mua cây đàn ấy về, sai tiện làm một bộ đồ trà. Mỗi khi Mỵ Nương uống nước, lại nhìn thấy hình tượng Trương Chi trong chén…
Chính vì điển tích này mà các hình tượng chén đàn, bát đàn là tượng trưng cho tình cảm, tình yêu. Trong bữa cơm, người Quan họ dùng "bát đàn"- bát làm bằng gỗ cây bạch đàn- chính là thể hiện tình cảm của Quan họ chủ và Quan họ khách, của liền anh, liền chị Quan họ.
Là một nhà nghiên cứu Quan họ lâu năm, lại là người lăn lộn với phong trào Quan họ cũng như gắn bó với hoạt động của đoàn Quan họ Bắc Ninh một thời gian dài, ý kiến của ông Lê Danh Khiêm ắt hẳn có một sức nặng nhất định. Tuy vậy, theo chúng tôi, giải thích "mâm đan, bát đàn" như vậy có phần khiên cưỡng.
Trong ngôn ngữ giao tiếp, người Quan họ bao giờ cũng khiêm tốn, nhã nhặn và đề cao người đối thoại với mình. Dù các bạn Quan họ ít tuổi hơn mình nhưng cả nam và nữ luôn miệng thưa gửi và xưng là "chúng em". Cách nói năng theo đúng nguyên tắc "hô thì tôn, xưng thì khiêm" như thế, khó có thể xảy ra trường hợp mời khách xơi cơm lại giới thiệu mâm bát nhà mình mang ra bày cỗ là "mâm đan, bát đàn" sang trọng đến thế.
Nghe cả câu mời thì chúng ta càng rõ ý của người Quan họ: "Hôm nay liền chị đã có lòng sang chơi bên đất nước nhà em, anh em nhà em chạy được mâm cơm thì đầu mâm đĩa muối, cuối mâm đĩa vừng, mâm đan, bát đàn xin mời đương quan họ dựng đũa lên chén để anh em nhà em được thừa tiếp"…(Hồng Thao: "Quan họ - lề lối sinh hoạt và hình thái tồn tại"- Văn nghệ Hà Bắc, số 1, 1991).
Rõ ràng, người Quan họ đã dùng uyển ngữ, lối nói giảm xuống để giới thiệu rằng mâm cỗ mà mình mang ra mời khách rất đơn sơ, đạm bạc, mà thực tế không phải như vậy. Theo Trần Linh Quý - Hồng Thao: "Tùy theo từng làng, cũng có những nét riêng, nhưng nhìn chung, cỗ mời quan họ ăn thường là cỗ to, bày ba dàn trên mâm khi mới bưng lên. ("Tìm hiểu dân ca quan họ" - NXB Văn hóa dân tộc, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Bắc, 1997).
Cỗ bàn đàng hoàng như thế, "cỗ mặn bưng vào, cỗ chay bưng ra", nhưng với tư cách chủ nhà họ không thể nói cỗ có "nem công, chả phượng", "sơn hào hải vị", cũng không thể nói "mâm đồng, bát sứ" hay "mâm son, bát vàng" quý giá được.
Vậy "mâm đan, bát đàn" là gì?
Theo chúng tôi, mâm đan là thứ mâm đan bằng tre, mâm chõng của nhà nghèo. Còn bát đàn thì chúng ta đã có định nghĩa trong "Từ điển Tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2002 là "bát nông lòng, làm bằng đất nung thô, có tráng men".
Như vậy, đi với bát đàn - đất nung, hẳn phải là mâm đan - tre liếp. Hơn nữa, còn có một thứ ngôn ngữ cùng cách nói nhún nhường là đầu mâm đĩa muối, cuối mâm đĩa vừng (dưa) làm nên một "khí quyển" ngôn ngữ nhún nhường để chứa đựng trong đó biết bao là lịch thiệp, biết bao là tình tứ!
Cách nói khiêm nhường như thế không chỉ là phong cách riêng của người Quan họ mà là phong cách của cả đồng bằng Bắc Bộ. Hiện nay, về quê dự tiệc, đôi khi chúng ta vẫn thấy vị đại diện gia chủ "có nhời" rằng: "Hôm nay nhà cháu kiếm lưng cơm cúng ông cháu, kính mời cụ lại chơi, xơi với nhà cháu miếng cơm"… hoặc "mời cụ đến xơi với ông cháu chén rượu nhạt ạ".
Vì vậy, theo chúng tôi "mâm đan, bát đàn " chỉ là cách nói khiêm nhường để nói mâm bát thô mộc, thức ăn đạm bạc mà thôi, không liên quan gì đến những điển cố xa vời mà ông Lê Danh Khiêm dẫn dụ
