Nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu:

Không có gì mẫu thuẫn giữa con người của ngoại giao và con người của văn chương

Thứ Năm, 21/08/2014, 08:00
Vừa qua, Hội nhà văn Việt Nam đã trang trọng tổ chức buổi ra mắt tuyển tập thơ của nhà thơ Ba Lan Wislawa Szymborska - người đoạt giải Nobel Văn học năm 1996 - do dịch giả Tạ Minh Châu chuyển ngữ. Dịch giả Tạ Minh Châu là người rất yêu mến đất nước, con người, văn học Ba Lan và cũng là người có nhiều duyên nợ với Ba Lan (ông từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Ba Lan)...

Sắp tới, dịch giả Tạ Minh Châu có chuyến trở lại Ba Lan trong vòng 1 tháng để tìm hiểu, tuyển lựa dịch một số tác phẩm của nhà thơ Czeslaw Milosz - một tác gia vĩ đại đoạt giải Nobel Văn học năm 1980. Nhân dịp này, Chuyên đề Văn nghệ Công an có cuộc trò chuyện với dịch giả Tạ Minh Châu.

- Thưa nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu, ông từng được biết đến với tuyển tập thơ Wislawa Szymborska bản tiếng Việt với 75 bài thơ in năm 1997 - chỉ 1 năm sau khi nữ tác giả Wislawa Szymborska đoạt giải Nobel văn học. Tại sao ông lại tiếp tục chọn dịch, giới thiệu thơ Wislawa Szymborska tại Việt Nam trong khi Ba Lan có tới 4 nhà văn đoạt giải Nobel?

+ Wislawa Szymborska là một người rất khó tính trong sáng tác. Khi bà cầm bút viết, bên cạnh luôn có một cái thùng rác và những bài thơ được viết ra, nếu bà cảm thấy không ưng ý đều bị tiêu hủy. Chắc hẳn đó cũng là lý do vì sao gia tài thơ của Wislawa Szymborska chỉ có hơn 300 bài, song mỗi bài đều như một viên kim cương lấp lánh. Lý do thứ nhất khiến tôi tiếp tục chọn dịch thơ Wislawa Szymborska là vì đề tài của thơ bà luôn là những vấn đề cụ thể. Đó có thể là tình yêu đất nước, tình yêu con người, sự căm thù hay cái chết... nhưng đều rất gần gũi với đời thường mà bạn đọc ở nước nào cũng có thể cảm nhận được.

Thơ Szymborska rất giản dị nhưng lại phổ quát, rất riêng biệt mà lại mang tầm nhân loại như "Lúc 4 giờ sáng", "Không có gì hai lần"... Lý do thứ hai của tôi khi lựa chọn Szymborska là bởi sự đặc biệt trong thi pháp của thơ bà. Thơ Szymborska luôn rất giản dị nhưng dùng nhiều phép so sánh, đối lập với những liên tưởng đột ngột, bất ngờ, với triết lý, suy tưởng hàm ý sâu xa như trong các bài "Ở sân bay", "Những sợi dây xích", "Bầu trời", "Bảo tàng"... Lý do thứ ba - đó là vì thơ Szymborska chứa đựng những vấn đề mang tầm nhân loại nhưng cũng rất nữ tính, rất đời thường với những tình cảm gần gũi, những yêu thương mong manh ai cũng có thể cảm nhận được đồng thời cũng là sự thấu đáo về nối đau con người như "Từ những hồi tưởng", "Em ở quá gần"...

Thơ Szymborska càng đọc lại càng thấy thấm, lan tỏa với những gì gần gũi nhất mà nhiều người nhìn thấy, nghĩ tới nhưng lại không viết ra được như bà. Còn một lý do nữa khiến tôi tiếp tục chọn Szymborska là bởi bà là một "người bạn tốt" của Việt Nam. Trong gia tài hơn 300 bài thơ của mình, Szymborska đã có hai bài viết về Việt Nam. Đó là bài "Lá chắn" và "Việt Nam" - dù bà chưa đến Việt Nam lần nào. Đây là một điều vô cùng đáng trân trọng và tự hào.

- Trên thế giới, việc thực thi bảo hộ bản quyền văn học được thực hiện khá nghiêm ngặt, đặc biệt là với các nhà văn từng đoạt giải Nobel Văn học. Để có bản quyền dịch các tác phẩm này, các nhà xuất bản thường phải trả chi phí rất cao. Ông làm thế nào để có được bản quyền các tác phẩm của Szymborska dịch ra tiếng Việt?

+ Năm 1996, khi Wislawa Szymborska đoạt giải Nobel Văn học thì tôi đã có dịch khoảng hơn chục bài thơ của bà ra tiếng Việt từ trước đó. Vì thế tôi đã phối hợp để làm một chương trình dài 30 phút trên VTV giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của Szymborska. Ở Hội Nhà văn Việt Nam, rất nhiều người ngỏ ý muốn tôi làm sao liên hệ để xin phép bà cho dịch và in một tuyển tập Szymborska ở Việt Nam. Qua sứ quán Ba Lan, tôi gửi các bài thơ tôi đã dịch và cả chương trình truyền hình cho bà xem và cũng tự giới thiệu về mình với quá trình học tập và công tác tại Ba Lan, đồng thời xin phép dịch và in thơ của bà sang tiếng Việt. Tôi cũng "trình bày" với bà sự khó khăn khi thực hiện thanh toán tiền bản quyền cho bà trong điều kiện đất nước Việt Nam còn nghèo. Không ngờ bà chấp thuận ngay và còn rất xúc động trước những tình cảm của độc giả Việt Nam dành cho thơ của mình. Vậy là 1 năm sau khi Szymborska đoạt giải Nobel, tuyển thơ của bà đã có mặt ở Việt Nam.

Nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu (bên trái) trong lễ ra mắt tuyển thơ Wislawa Szymborska tại Việt Nam.

- Trong lời bình của mình về thơ Szymborska, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã "bày tỏ lời cảm tạ sâu sắc với dịch giả Tạ Minh Châu" vì "Ông đã mang đến cho tôi một Wislawa Szymborska thực sự Ba Lan mà lại "nói bằng tiếng Việt". Ông có thể chia sẻ quá trình dịch thơ Szymborska, điều khó khăn nhất mà ông gặp phải là gì?

+ Cái khó nhất khi dịch thơ Szymborska đó là làm sao giữ được thi pháp đặc biệt của bà sau khi đã chuyển ngữ. Để làm được điều đó phải hiểu được sự so sánh, sự tinh tế và những triết lý sâu sắc mà bà đề cập. Vì thế tôi phải đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm, đối chiếu... làm sao để khi chuyển tải sang tiếng Việt vẫn đúng là thơ của Szymborska về cả mặt thi pháp và ngữ nghĩa nhưng người Việt Nam cảm nhận được.

- Thưa dịch giả Tạ Minh Châu, được biết ông là người có rất nhiều duyên nợ với đất nước Ba Lan…

+ Đúng vậy! Vừa tốt nghiệp lớp 10 xong, tôi được cử sang Ba Lan học khoa văn Trường Đại học Tổng hợp Warszawa. Đất nước Ba Lan cũng là nơi đã "xe duyên" cho tôi với người bạn đời, khi chúng tôi học cùng trường đại học. Sau này, cả hai vợ chồng tôi đều quay lại làm Tiến sĩ tại Ba Lan. Không những thế, cả hai người con trai và một người con dâu của tôi cũng đều sang Ba Lan làm Tiến sĩ. Tôi từng vinh dự được nhà nước Ba Lan trao tặng "Huân chương Vì sự nghiệp văn hóa Ba Lan" và "Huân chương Quân công hạng 2". Đó là sự ghi nhận và động viên vô cùng to lớn đối với tôi.

Năm 2002, sau khi hết nhiệm kỳ đại sứ, tôi đến chào Tổng thống Ba Lan trước khi về nước. Tổng thống Ba Lan đã dặn tôi: "Tôi biết ông về nước có thể làm tốt nhiều việc khác nhưng tôi mong ông đừng bao giờ ngừng việc dịch văn học Ba Lan ra tiếng Việt!" khiến tôi rất xúc động và ghi nhớ suốt đời. Dịch thuật với tôi là niềm đam mê, tôi chắc rằng mình sẽ không bỏ cuộc. Tôi yêu đất nước, con người, nền văn hóa đặc biệt và kho tàng văn học Ba Lan đặc sắc nên cũng muốn truyền tải tình yêu này đến với độc giả Việt Nam.

- Ông được biết đến với vai trò là một nhà ngoại giao kỳ cựu với 38 năm trong nghề và cũng đã trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ khá sớm, cách đây gần 20 năm. Có gì mâu thuẫn giữa con người của ngoại giao và con người của văn chương không, thưa ông?

+ Thực ra là không mâu thuẫn gì. Khi làm công việc ngoại giao là theo những nguyên tắc, chuẩn mực nhất định mà mình phải theo. Nhưng với những chuẩn mực, nguyên tắc đó, nếu được thể hiện bằng phong cách một nhà văn hóa thì có nhiều lợi thế, mềm mại, uyển chuyển, có chiều sâu và dễ đi vào lòng người hơn. Khi là nhà văn lại kiêm nhà ngoại giao, tôi có điều kiện tiếp xúc nhiều. Tôi đã đi hơn 80 nước trên thế giới và học hỏi được rất nhiều điều. Các cụ ta nói: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn", việc được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa đã bổ trợ, làm giàu thêm cho vốn sống, vốn kiến thức của tôi và trợ giúp tôi rất nhiều trong quá trình sáng tác, dịch thuật.

- Theo ông, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề "ngoại giao văn hóa" có vai trò như thế nào?

+ Trước nay, nói tới ngoại giao người ta hay nói tới ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế nhưng những năm gần đây, ngoại giao văn hóa đang rất được chú trọng. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, các nước khác nhau là bởi văn hóa của họ khác nhau và không có con đường nào đến với trái tim của nhân dân các nước ngắn hơn là con đường văn hóa. Tôi xin kể một kỷ niệm, trong buổi chiêu đãi Tổng thống Ba Lan sang thăm Việt Nam, sau khi các nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn tiết mục dân ca quan họ "Mời trầu" và "Người ở đừng về" và được thuyết minh, Tổng thống Ba Lan và đoàn vô cùng ngạc nhiên trước sự trữ tình, đa cảm, lãng mạn... của người Việt. Chính những nét văn hóa ấy mới là điều đọng lại trong lòng nhân dân thế giới.

- Theo ông, việc phổ biến các tác phẩm văn học Việt Nam tiêu biểu ra các thứ tiếng trên thế giới hiện nay ra sao? Ông có thể chia sẻ những điều "mắt thấy tai nghe" về cách làm của Ba Lan trong việc quảng bá văn học Ba Lan ra nước ngoài?

+ Theo tôi, việc phổ biến các tác phẩm văn học Việt Nam tiêu biểu ra các thứ tiếng trên thế giới hiện còn quá ít và chưa có hệ thống. Sở dĩ Ba Lan làm tốt được việc phổ biến tác phẩm văn học ra nước ngoài là vì Ba Lan có một Viện Sách quốc gia và cứ 4 năm 1 lần họ lại tổ chức Đại hội dịch giả tiếng Ba Lan, quy tụ những dịch giả đã dịch văn học Ba Lan trên toàn thế giới. Hàng năm, các dịch giả có thể gửi bản kế hoạch của mình sang Viện Sách để tổ chức này nghiên cứu, đánh giá và nếu đáp ứng yêu cầu sẽ mời sang Ba Lan để tiếp tục công việc dịch thuật. Chuyến đi tới đây của tôi sang Ba Lan để tiếp cận tư liệu và dịch về Czeslaw Milosz là đi theo lời mời của Viện Sách Ba Lan. Đó là cách làm rất văn hóa và đầy trân trọng đối với các dịch giả. Vừa rồi, khi cuốn sách của tôi ra mắt, đại sứ Ba Lan ở Việt Nam đã tổ chức một bữa tiệc mừng khiến tôi rất xúc động và tự hào.

- Xin cảm ơn nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu!

Nguyệt Hà (thực hiện)
.
.
.