Câu văn "gầy", câu văn "béo"
Mỗi nhà văn có một quan niệm riêng về văn chương, từ thời tuổi trẻ khi cầm bút viết "Dế mèn phiêu lưu ký" đến tuổi già viết "Cát bụi chân ai", "Chiều chiều", Tô Hoài vẫn đeo đuổi cái khác biệt đó. Văn Tô Hoài không có cái thế mạnh về tư tưởng, triết luận mà thiên về cảm nhận trực quan cụ thể được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ giàu có, sáng tạo, giàu nhịp điệu, chất thơ, tạo nên phong cách độc đáo Tô Hoài. Nhà văn cho rằng: " Cuộc đời không bao giờ lặp lại, thì cái thể hiện đời, tức là chữ, là câu văn, cũng không được phép lặp lại, Cho nên cuộc đời là một mặt của vấn đề, câu văn cũng là một mặt của vấn đề. Trong khi cuộc sống, phong cảnh, vạn vật biến chuyển không ngừng thì câu văn không thể đứng nguyên tại chỗ". Nhà văn phải tinh thông về chữ nghĩa, chữ nghĩa giàu có thì văn hay là cách nhìn nhận của Tô Hoài.
Vậy thế nào là câu văn gầy?
Nhà văn Tô Hoài đọc: "Rặng tre xanh đầu mùa hè" và cho nó là câu văn gầy "vì nó thiếu chữ. Có phải cả bốn mùa tre có màu xanh như nhau cả đâu. Anh phải tìm một tiếng để tả cái màu xanh của lá tre trong đầu mùa hè chứ".
Thế nào là câu văn béo?
|
|
Cố nhà văn Tô Hoài. |
Tô Hoài cho rằng: "Khi viết văn, bao giờ tôi cũng nghĩ là mỗi câu văn là do từng hình ảnh xuất hiện liên tiếp, từng chữ mang hình ảnh nối vào nhau. Chữ của câu văn phải như gõ vào, nó kêu được. Chữ phải làm nổi hình ảnh liên tiếp. Cho nên tôi cố gắng, một là chỉ cho người đọc thấy dáng câu, chứ không thấy được kiến trúc câu, hai là cách cấu tạo câu phải là hình ảnh, hình ảnh liên tiếp. Người ta đọc bằng mắt, chữ vào trong óc, bao giờ cũng trở thành hình ảnh trước, tôi cố gắng làm theo những cách như trên". Đọc truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" một trong những tác phẩm thành công của Tô Hoài ta càng hiểu thêm cách viết giàu hình ảnh của ông. Đây là cảnh làng Mèo Đỏ: "Gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, rét càng dữ. Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã được phơi ra mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ. Hoa thuốc phiện nở trắng, lại nở màu đỏ hau, đỏ thậm, rồi nở màu tím man mác". Đây là cảnh đồn Tây qua đôi mắt nhìn chất phác, hồn nhiên của A Phủ: "Vệt đỏ như ổ mối đùn", "đỏ heo như tổ mối". Cái nhìn của A Phủ qua ngòi bút Tô Hoài rất ấn tượng, bởi vì lúc đó A Phủ chưa nhận biết thằng Tây là kẻ thù, chỉ nghĩ như "người khách" bán muối bán vải ở cửa Vạn sông Đà. Trong tiểu thuyết "Miền Tây" Tô Hoài cũng có những đoạn văn đặc sắc, rất gợi cảm. Đoạn tả dốc Sinh Hồ là một ví dụ:
"Bóng tối trùm nặng từng quãng, nhanh và dữ tợn. Các mỏm núi đương vàng rực, bỗng xanh rợn. Gió chồm lên rồi chết đứng từng đợt ngay giữa các triền đồi tranh im lặng.
Đoàn ngựa lên dốc. Tối dần.
Một lúc, cả đoàn dừng lại. Những người phu nhảy xuống, chạy quanh ngựa, hấp tấp rút trên túi ngực ra một ống nứa đựng rượu ngâm củ gấu đặc xẫm. Họ lần lượt xách cương kéo mõm từng con ngựa lên, rồi dốc ngược cả ống rượu gấu vào họng ngựa. Những tiếng hí vang xâu vào các hõm núi. Con ngựa rùng mình, lắc lắc, nhảy vung hai chân trước. Rồi lại đứng yên. Ngựa đã quen nhai củ gấu ngâm rượu thuốc, mỗi chuyến đi dài. Rượu ngấm vào, làm rung bốn vó để thêm sức cho ngựa dấn nốt đoạn dốc cuối cùng dài nhất, dai dẳng nhất.
Rồi đoàn ngựa lại chuyển động và bắt đầu ló lên một quãng trống lưng đèo, trông như đoàn kiến nối nhau, nhấp nhô".
Viết một đoạn văn như vậy Tô Hoài đã quan sát kỹ lưỡng, tinh tường khi đi qua dốc Sinh Hồ và đã từng đi qua nhiều con dốc khác nên mới cảm nhận được. Như trên đã nói, Tô Hoài quan niệm câu văn là những hình ảnh xuất hiện liên tiếp nên ít khi ông chịu viết một câu văn mộc, không có hình ảnh. Cách dùng hình ảnh của ông luôn có sáng tạo mới mẻ. Cảnh những con lũ hung hăng khi những cơn mưa núi, mưa thung, mưa rừng thúc con suối Nậm Na chồm lên tạo thành những con lũ liên tiếp được ông tả như sau: "Những con lũ gối lên nhau, miên man gầm thét, đuổi theo nhau". Không ai có thể ngờ hình ảnh "con lũ gối" lại được sáng tạo chính từ… những sợi dây khoai lang. Ngày đi thực tế ở Thái Ninh, Thái Bình nhà văn nghe nông dân truyền kinh nghiệm cho nhau: "Đặt dây khoai lang thì đặt thưa, dây nọ gối vào đầu dây kia". Vậy là thay vì dùng từ "nằm", nhà văn sáng tạo ra từ "gối" chính xác, gợi cảm hơn.
Cái "ngân hàng chữ nghĩa" của Tô Hoài luôn đầy ắp, liên tục dung nạp được nhiều nên nó ngày càng phong phú. Để làm được như thế nhà văn đã học hỏi, sáng tạo không ngừng. Học trong nhân dân, học các bạn văn và học từ các loại sách. Từ bà con ở làng Nghĩa Đô (Hà Nội) quê ông đến những chuyến đi thực tế, tham gia tổ trưởng dân phố, ông đã nhặt nhạnh được nhiều câu, chữ hay mà nếu chỉ ngồi trong tháp ngà nghệ thuật ông không bao giờ có được. Ông còn nói: "Đọc Nguyễn Tuân, Kim Lân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Bùi Hiển rất thích, vì đọc các anh ấy bao giờ tôi cũng học được những tiếng, những câu, có lẽ các anh ấy dùng quen, nhưng đối với tôi thì là mới". Đọc những truyện ngắn viết sau này của Nguyễn Quang Sáng, ông cho rằng Nguyễn Quang Sáng đã có ngôn ngữ của trung tâm - là ngôn ngữ của thành phố Hồ Chí Minh. Ông còn gật gù cho rằng đọc văn Nguyễn Ngọc Tư thấy ngôn ngữ của vùng sông nước Nam bộ. Có nghĩa là ông còn học các bạn văn của mình và học cả lớp nhà văn trẻ. Tô Hoài còn đọc "thượng vàng hạ cám", đủ loại sách báo, kể cả những sách báo chẳng liên quan gì đến văn chương để học hỏi. Với phương châm "năng nhặt chặt bị", cái gia tài chữ nghĩa của Tô Hoài thật đồ sộ, giúp ông sử dụng, biến hóa nó rất thoải mái, sáng tạo.
Ra đi ở tuổi 94, với gần 200 đầu sách để lại cho đời, Tô Hoài quả là một nhà văn có sức sáng tạo vô cùng bền bỉ, dồi dào. Kinh nghiệm viết văn của ông thiết nghĩ cũng giúp cho chúng ta những điều bổ ích trong quá trình sáng tác
(Bài có sử dụng tư liệu trong cuốn "Hỏi chuyện các nhà văn" của nhà văn Nguyễn Công Hoan và "Hướng về đâu, văn học" của nhà văn Bùi Hiển)
