Thế giới cảnh giác với virus Nipah
Tháng 1/2026, Thế giới lại lo lắng khi bang Tây Bengan, Ấn Độ xuất hiện ổ dịch Nipah với 5 ca bệnh, gồm 1 bác sĩ và 2 y tá. Nhà chức trách Tây Bengal lập tức áp dụng biện pháp cách ly, truy vết tiếp xúc và giám sát y tế khẩn cấp trong khu vực. Các nước Thái Lan, Nepal, Việt Nam lập tức tăng cường các biện pháp phòng dịch…
Nguy cơ đại dịch
Đây là công tác phòng ngừa khẩn cấp, bởi Nipah thuộc nhóm virus nguy hiểm hàng đầu, có thể gây tử vong đến 90% ca bệnh (tương đương virus Ebola) và Nipah thuộc danh sách nguy cơ gây đại dịch toàn cầu của WHO.
Bệnh dịch do virus Nipah xuất hiện đầu tiên năm 1998 ở Kampung Sungai Nipah (làng sông Dừa nước), bang Perak, từ những người Malaysia gốc Hoa nuôi heo. 4 mẫu máu của 28 bệnh nhân đầu tiên dương tính với kháng thể IgM đặc hiệu của virus viêm não Nhật Bản B. Trung tâm hợp tác bệnh nhiệt đới của WHO tại Đại học Nagasaki, Nhật Bản cũng xác nhận kết quả này.
Lúc này Kaw Bing Chua, đang là nghiên cứu sinh virus học ở Đại học Malaya ở Kuala Lumpur. Đầu năm 1999, khi căn bệnh “viêm não” lan ra 3 bang ở Malaysia thì từ mẫu bệnh phẩm Chua phát hiện loại virus khác với viêm não Nhật Bản B. Anh gọi điện mời Giáo sư trưởng khoa đến phòng thí nghiệm, nhưng ông nói rằng hãy bỏ phát hiện đó đi, rằng anh đang lãng phí thời gian.
Bác sĩ C.T. Tan, ở Bệnh viện đại học Malaya nói rằng anh không làm gì được vì không có thuốc, không có phương pháp điều trị. Khoảng một nửa bệnh nhân tử vong sau khi nhập viện và chừng 1/3 gia đình ở làng Nipah mất người thân…
Cả Chua và Tan đều không tin bệnh đến từ muỗi. Họ nhận thấy người Hồi giáo, Hindu hay Cơ đốc giáo không mắc bệnh và người theo đạo Hồi tuyệt không đụng đến heo là gợi ý lớn… “Muỗi không “cần biết” bạn theo tôn giáo nào, nếu bệnh từ muỗi, sao người Hồi giáo, Ấn Độ giáo hay Thiên Chúa giáo không mắc bệnh? Chỉ có người nuôi heo mắc bệnh?”.
Chua thuyết phục được Giáo sư trưởng khoa gửi anh đến Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh ở Fort Collins, Colorado, Mỹ, nơi có kính hiển vi điện tử, giúp phân loại chính xác các loại virus. Khi đặt mẫu virus mang theo lên kính, Chua giật mình cùng với cảm giác lạnh sống lưng khi nhận ra những virus thuộc họ Paramyxoviridae, bởi anh đã biết mức độ nguy hiểm của họ virus này. Chua vội vàng gọi điện cho các quan chức Malaysia thông báo phát hiện của mình và đề nghị “Hãy dừng việc diệt muỗi, bệnh đến từ heo”.
Nipah gây bệnh cảnh viêm não và tổn thương đường thở, suy hô hấp. Tỷ lệ tử vong chung cho Malaysia và Singapore trong vụ dịch đầu tiên xấp xỉ 40%; ở Bangladesh hơn 76%; Ấn Độ 69%; nhưng có những ổ dịch tử vong đến 91%; Philippine 53%; số người nhập viện tử vong 40 - 75%; trong khi tử vong do COVID-19 trung bình toàn cầu khoảng 1-1,4%, theo WHO. Khoảng 20% người sống sót có di chứng động kinh, rối loạn hành vi hoặc mệt mỏi kéo dài; hiếm gặp là tử vong do viêm não tái phát muộn sau nhiều tháng, nhiều năm.
Vật chủ chính của Nipah là chi Dơi quạ (Pteropus, quen gọi dơi ăn quả, cáo bay) thuộc họ cùng tên, sinh sống nhiều ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Virus dễ lây từ dơi sang lợn, ngựa và những loài này cũng bị bệnh. Hầu hết các ca bệnh ở người là do tiếp xúc trực tiếp với vật bệnh hoặc mô, dịch cơ thể, giọt bắn từ vật hay người bệnh, thực phẩm nhiễm virus (không qua khí thở), ăn quả không rửa hoặc bị động vật gặm nhấm. Người Malaysia, Ấn Độ, Bangladesh có tập quán uống nước ép chà là tươi hay nhựa cây dễ nhiễm virus có từ nước bọt hay nước tiểu, phân dơi.
Xác định vật chủ truyền bệnh là loài dơi
Hiện Nipah chỉ gây dịch tản phát (các ổ dịch nhỏ, rải rác) ở Nam Á và Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguy cơ ở chỗ dơi Pteropus phân bố trên diện sinh sống của khoảng hơn 2 tỉ người và đường lây nhiễm người - người đã hình thành. Các mẫu xét nghiệm dơi Thái Lan có 10% nhiễm virus, dơi Ấn Độ có đến 40 - 50% mẫu mang virus. Dơi Ấn Độ mang chủng Nipah Malaysia, dơi Thái Lan mang chủng Bangladesh nguy hiểm hơn. Đã phát hiện ngựa, trâu, bò, dê, chó, mèo mang Nipah.
Nipah có bản chất di truyền RNA sợi đơn, chỉ là một trong 6 loại (chủng) virus đã phân lập được (và nhiều chủng đang được nghiên cứu) trong chi Henipavirus (họ Paramyxoviridae). Nguy cơ là cả 6 chủng này đều có khả năng gây đại dịch toàn cầu do có chuỗi gene tương đồng và hiện chúng đã tiến hóa đến mức lây nhiễm người - người.
Bằng chứng là trước Nipah, năm 1994, từ những con ngựa và người huấn luyện chúng chết vì viêm phổi ở Hendra, ngoại ô Brisbane, Queensland, Australia, đã phát hiện chủng Henipavirus đầu tiên (đặt tên Hendra). Từ đó Hendra vẫn gây ra các ổ dịch nhỏ trên ngựa ở Queensland và New South Wales giáp ranh…
Năm 2021, nhóm nghiên cứu Trung Quốc, Singapore và Australia phát hiện 34 ca bệnh do virus Langya, chi Henipavirus ở Sơn Đông và Hà Nam, Trung Quốc và Langya được thừa nhận. Tháng 12/2018, tìm thấy Langya ở một phụ nữ 53 tuổi nhập viện nhưng nó chưa được công nhận. Nhóm nghiên cứu phát hiện 27% chuột chù được khảo sát chứa Langya. Nay phát hiện thêm 2% số dê và 5% số chó mang virus này.
Cùng năm, ở Camp Hill gần Auburn, Alabama, Mỹ, phân lập được loại Henipavirrus “rất gần gũi di truyền” với Langya từ 4 con chuột chù đuôi ngắn (có nhiều ở Bắc Mỹ và Canada) mắc bệnh, đặt tên Camp Hill. Đến tháng 2/2025, TS Rhys Parry và các nhà nghiên cứu Đại học Queensland, Australia lại tìm thấy chủng virus này ở chuột chù Bắc Mỹ. TS Parry nói rằng: “Phát hiện Henipavirus ở Bắc Mỹ cho thấy virus này đã phân bố rộng rãi hơn trên toàn cầu so với hiểu biết trước đây”. Ông cảnh báo một đại dịch toàn cầu tiếp theo.
Các nhà khoa học WHO, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ và Đại học Malaya thống nhất kết luận dịch Nipah ở Malaysia xảy ra sau khi rừng bị phá diện rộng, cộng thêm đợt hạn hán của kỳ El Nino. Nguồn thức ăn giảm đi buộc dơi đến các vườn cây, trang trại gần gia súc, dân cư, làm tăng khả năng lây truyền virus sang vật nuôi và con người. Nắng nóng cực đoan và nhiều đợt hạn hán ở Bangladesh, Ấn Độ được cho là nguyên nhân của các đợt bùng phát Nipah. Rộng ra toàn cầu, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng làm suy thoái sinh thái, gây mất cân bằng đa dạng sinh học, dẫn đến thay đổi phân bố động vật hoang dã sẽ đe dọa an ninh y tế, bởi khi chúng tiến sát và truyền sang người các loại vi sinh vật, hệ miễn dịch của chúng ta phải đối mặt với những mầm bệnh hoàn toàn lạ lẫm.
Bản chất nguy hiểm và bùng dịch
Virus không phải là tế bào hoàn chỉnh như vi khuẩn, vì thế chúng không thể tự trao đổi chất, tổng hợp sinh chất và sinh sản (nhân bản). Để tồn tại, nhân lên, mọi virus đều phải ký sinh trong tế bào sống của vật chủ, mượn sinh chất và bộ máy sinh sản để nhân bản. Thời gian nhân lên của virus rất ngắn, từ một virus ban đầu một tế bào nhiễm nó sẽ tạo ra hàng ngàn virus mới chỉ sau 5 - 6 giờ.
Quá trình nhân đôi của vi khuẩn rất hiếm xảy ra lỗi, nhưng nhân bản virus thường mắc lỗi, do tốc độ nhân bản quá nhanh nên sao chép di truyền thiếu chính xác và không có cơ chế tự sửa chữa gene như tế bào. Cụ thể, trong chuỗi gene của virus mới (bản sao) có một vài đoạn bị thay mới, hoặc thay đổi trật tự các acid amin (liên kết amin (NH2) - carboxyl (COOH) - gọi khác là Bazơ Nitơ) hoặc vị trí các acid amin, vị trí đoạn gene trong chuỗi; có khi chỉ là thay đổi vài acid amin. Nói cho dễ hiểu là xóa vật liệu di truyền ở một hay nhiều đoạn gene, thay vào đó vật liệu di truyền mới. Biến đổi này chính là đột biến, nếu nhỏ và ít vẫn tạo ra biến thể mới nhưng tính chất của virus hầu như không thay đổi; nhiều đột biến trong đó có những đột biến quan trọng sẽ làm thay đổi hẳn tính chất của virus (như thích nghi với vật chủ mới; độc hơn hay giảm độc…) gọi là biến chủng.
Ở cấp độ cao hơn, khi hai virus cùng chi ở trong một tế bào chủ, cũng nhờ vào bộ máy sinh sản của tế bào, chúng sẽ trao đổi cho nhau những đoạn gene dẫn đến chuyển đổi locus (vị trí gene trong nhiễm sắc thể) các gene - gọi là tái tổ hợp di truyền. Từ đầu những năm 1900, T.H.Morgan (1866-1945), nhà Di truyền học Mỹ, người lập “bản đồ” phân bố các gene trên nhiễm sắc thể (loài ruồi giấm), đã giải thích hợp lí một phần bản chất của hiện tượng này. Tái tổ hợp sẽ sinh ra một thế hệ “con cái” có tính trạng hoàn toàn khác “bố mẹ”. Đều là đột biến, nhưng tái tổ hợp mang “màu sắc” sinh sản hữu tính còn đột biến nói trên là sinh sản đơn tính, cho dù cùng xảy ra ở một sinh vật sinh sản vô tính (virus). Có hai điều kiện để tái tổ hợp xảy ra là hai chủng virus cùng chi phải cùng xuất hiện ở một khu vực địa lý và số người nhiễm chúng phải đủ nhiều.
Tất cả virus đều đột biến để thích nghi, tồn tại và hầu hết các đột biến vô hại với con người. Tuy nhiên có những đột biến gây họa khi sinh ra những lợi thế gây hại như dễ lây sang vật, lây lan người - người hoặc lây lan nhanh; tăng khả năng xâm nhập tế bào vật chủ; rút ngắn chu kỳ nhân bản, nhân bản nhanh hơn, gây tổn thương mô nặng hơn (độc hơn); giúp virus “né” xét nghiệm, lẩn tránh kháng thể và giảm tác dụng điều trị... SARS-CoV-2 chưa từng “nhảy” sang người, nhưng đột biến làm nó lây nhiễm người - người với tốc độ khủng khiếp.
Ví dụ, từ chủng gốc Vũ Hán COVID-19 có 5 biến chủng lớn là Alpha phát hiện đầu tiên ở Anh, gọi là BC Anh, Beta (Nam Phi), Gamma (Brazil), Delta (Ấn Độ), Omicron (Nam Phi), mỗi BC lại có nhiều đôi khi cả chục biến thể phụ. Trong đó, Alpha lây truyền cao hơn chủng gốc khoảng 70%, Gamma gấp 2,5 lần chủng gốc; Delta lây nhiễm nhanh hơn Alpha 40%-60%; tỷ lệ nhập viện do Delta cao hơn Alpha 85%... Về tái tổ hợp, virus tả lợn châu Phi (African swine fever virus - ASFV) là “bậc thầy”.
Không phải có hay không, mà khi nào xảy ra?
Đó là kết luận của các nhà chuyên môn.
Từ thế kỷ XX, các bệnh cổ xưa do vi khuẩn, ký sinh trùng được khống chế hoặc loại trừ thì các bệnh do virus lại trở thành nguy cơ rất cao. Hiện có 5 họ hoặc chi virus có khả năng gây đại dịch toàn cầu là Corona, Flaviviridae (gây bệnh sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản, Zika, sốt Tây sông Nile…), Paramyxoviridae, Alphavirus (họ Togaviridae - gây viêm não người, ngựa; bệnh Chikungunya…) và virus cúm (Orthomyxoviridae). Những virus này gây ra bệnh hoặc dịch truyền nhiễm mới hoặc tái nổi có số ca bệnh và tử vong cao, tập trung ở châu Á, châu Phi, trong đó khoảng 75% bệnh truyền nhiễm mới nổi có nguồn gốc động vật. Hiện thế giới có hơn 200 bệnh lây truyền động vật - người và đang tăng lên, an ninh sức khỏe toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Theo các nhà chuyên môn, hiện có khoảng 260 loại virus nguy cơ gây dịch hoặc đại địch toàn cầu, trong đó họ Coronaviridae góp mặt nhiều nhất. Bà Thạch Chính Lệ, Viện virus học Vũ Hán nói rằng có khoảng 40 loài Coronavirrus nguy cơ lây sang người. WHO lập danh sách các bệnh truyền nhiễm cần ưu tiên nghiên cứu đặc biệt nhằm ngăn chặn bùng nổ đại dịch trong tương lai, tuy nhiên hiện thời nhiều loại virus vẫn chưa có vaccine, như Nipah, cúm A/H5N1… Ví dụ nhãn tiền, ngày 17/12/2019 bùng phát COVID-19 thì sau gần 11 tháng mới có vaccine đầu tiên của Pfizer - BioNTech là quá muộn. Bởi còn phải sản xuất đại trà, tiêm chủng đủ số người cần thiết ở mọi quốc gia mới có được miễn dịch cộng đồng. Khi chúng ta có đủ vaccine thì đại dịch đã kịp có 779.056.637 ca bệnh và 7.111.504 ca tử vong.

Khánh Hòa siết chặt các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh do virus Nipah