Thiểu số và đa số
Trong diễn ngôn hằng ngày, thiểu số không chỉ đơn thuần là số ít, đa số không nhất thiết phải là cấp số cộng của nhiều cá thể. Ý nghĩa cũng như cách vận dụng hai khái niệm này tùy thuộc vào từng bối cảnh và chúng thường mang sắc thái khác nhau. Tuy nhiên, dường như có một cách hiểu chung nhất rằng, trong hầu hết các trường hợp, tiếng nói của đa số cần phải được ưu tiên tôn trọng, lắng nghe và thực hiện.
Nguyên tắc này dường như mang tính phổ quát, phổ biến xã hội loài người mặc cho những khác biệt về địa lý, chủng tộc, thể chế chính trị hay thực hành văn hóa. Lịch sử nhân loại cũng đã có thừa minh chứng cho những bài học đắt giá mà bên thiểu số phải hứng chịu khi không tôn trọng tiếng nói của đa số.
Khi mỗi cá nhân hành xử tiêu cực, vượt ra khỏi những chuẩn mực giao tiếp, đi ngược lại các nguyên tắc đã được cả một tập thể thông qua, ấy chính là cách mà cá nhân đó tự tách mình khỏi tập thể, ấy chính là cách mà cá nhân đó tự cho người ta thấy tiếng nói của mình lạc điệu, cho người ta thấy sự thiếu tôn trọng những người xung quanh và sự bất lực của bản thân trước việc tìm ra tiếng nói chung với tập thể mà cá nhân đó là một bộ phận.
Khi hành động của một quốc gia này làm tổn hại quyền bất khả xâm phạm của một quốc gia khác, đi ngược lại với luật pháp quốc tế, chà đạp lên những nguyên tắc ứng xử nhân văn, điều đó có nghĩa quốc gia đó đang bất chấp các nguyên tắc pháp lí được đa số đồng thuận, tự đặt mình trên cộng đồng quốc tế, tự hủy hoại vị thế của mình, tự cô độc mình trong dòng chảy của cả nhân loại.
Trở lại với hành động Trung Quốc đưa dàn khoan Hải Dương 981 ngang nhiên xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, bất chấp thỏa thuận đã kí trước đó với Việt Nam và các nước ASEAN, bất chấp chủ quyền lãnh hải của một quốc gia, bất chấp Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 cho thấy quốc gia này đang tự biến mình thành thiểu số, đi ngược lại với tiếng nói chung của đa số. Có nhiều câu hỏi cần được giải đáp thấu đáo cho hành động ngang ngược này và trên thực tế, trong thời gian vừa qua đã có không ít bài báo nỗ lực bàn luận, đưa ra những kiến giải dưới nhiều chiều kích khác nhau.
Đặt hành động gây hấn của Trung Quốc trong mối quan hệ giữa thiểu số và đa số, có thể dễ dàng nhận thấy Trung Quốc không coi mình là thiểu số. Họ ỷ vào vị thế của một nước lớn mà mặc nhiên cho mình cái quyền không cần phải tôn trọng các nước láng giềng, hay thậm chí là cả cộng đồng quốc tế. Họ ngang nhiên thiết lập vùng nhận dạng phòng không ADIZ trên biển Hoa Đông, trong vùng tranh chấp với Nhật Bản và trên thực tế chồng lấn cả vùng phòng không của Hàn Quốc. Trên khu vực Biển Đông, Trung Quốc đã và đang có tranh chấp lãnh hải hay đưa ra yêu sách vô lí, xâm phạm chủ quyền với hàng loạt quốc gia như Đài Loan, Philippine, Brunei, Indonesia, Malaysia và Việt Nam qua cái mà họ gọi là "đường 9 đoạn" đầy mơ hồ và vô căn cứ. Đây tuyệt đối không phải là những tranh chấp lãnh thổ do điều kiện lịch sử để lại, mà thực chất là quá trình thực hiện chính sách bá quyền, xâm lấn lãnh thổ của các nước khác qua chiến thuật "tiến ba bước, lùi hai bước" mà Trung Quốc âm thầm theo đuổi trong hơn một thập kỉ qua. Chiến thuật này không ngừng được thúc đẩy trong vài năm gần đây nhằm ráo riết thực hiện "giấc mơ Trung Hoa" mà thế hệ lãnh đạo mới đây của quốc gia này khởi xướng.
|
|
Trước việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, ngày 11/6 vừa qua, Hội Luật gia Dân chủ quốc tế đã ra tuyên bố thể hiện sự quan ngại về tình hình căng thẳng leo thang ở Biển Đông và đề nghị Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế. |
Không một quốc gia nào trong số các nước kể trên thừa nhận yêu sách và sự bành trướng phi pháp của Trung Quốc. Đó là điểm chung thứ nhất. Tất cả các quốc gia đều cùng đang thực thi một chính sách đối thoại hòa bình, thông qua con đường ngoại giao và đó là sự nhẫn nhịn, kiềm chế đáng khen ngợi trong bối cảnh vùng đặc quyền hợp pháp của các quốc gia này đang bị Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm hay tuyên bố chủ quyền. Đó là điểm chung thứ hai. Các quốc gia này cùng yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật quốc tế, mà cụ thể là công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc để giải quyết các tranh chấp hay xác định chủ quyền của mỗi quốc gia. Đó là điểm chung thứ ba. Hầu hết các quốc gia này đều được dư luận quốc tế ủng hộ dưới nhiều hình thức và trên thực tế họ có đầy đủ cơ sở pháp lí để bác bỏ các yêu sách phi lí của Trung Quốc. Đó là điểm chung thứ tư. Thêm vào đó, các quốc gia này luôn kiên trì khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của mình đối với khu vực mà Trung Quốc lấn chiếm và không nhân nhượng trong bất cứ tình huống nào. Đó là điểm chung thứ năm.
Trong khi đó, hiện nay không có một quốc gia nào trên thế giới đang đồng thời có tranh chấp hay xâm lấn lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế với nhiều nước lân cận như Trung Quốc. Cũng không có một quốc gia nào ngang nhiên xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác một cách trắng trợn, phi lí dưới cùng một phương thức là "lấy thịt đè người", "ỷ đông hiếp cô", "tiền hậu bất nhất", "thiểu số át đa số" như chính quyền Trung Quốc. Cũng không có một quốc gia nào từ chối đàm phán hay chấp nhận quyền phán quyết của một tổ chức pháp lí quốc tế được thừa nhận như chính quyền Trung Quốc.
Minh chứng cụ thể nhất là ngày 4/6 vừa qua, Bộ Ngoại giao của nước này đã từ chối yêu cầu của Tòa trọng tài thường trực (PCA) của Liên hiệp quốc về việc phải trả lời hồ sơ kiện do chính phủ Phillipines đệ trình phản đối yêu sách chủ quyền phi lí của họ ở Biển Đông.
Điều đáng nói nhất là cũng không có quốc gia nào liên tục thực hiện các hành động khiêu khích bạo lực, sử dụng một lực lượng hỗ trợ khổng lồ để bảo vệ cho các hành động xâm chiếm phi pháp của mình và trên thực tế đã tiến hành một cách có hệ thống các hoạt động gây hấn, đe dọa sinh mạng của lực lượng chấp pháp hay ngư dân của các nước láng giềng như Trung Quốc. Những gì diễn ra trên vùng Biển Đông của Việt Nam trong hơn một tháng qua, với đỉnh điểm là việc tàu Trung Quốc ngang nhiên đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 của ngư dân Đà Nẵng vào ngày 1/6 là minh chứng không thể chối cãi.
Một chính phủ ngang nhiên đồng thời khiêu khích nhiều nước trong khu vực, tự đặt mình trên luật pháp quốc tế sẽ dẫn dắt quốc gia ấy đi về đâu? Một chính phủ "nói một đằng, làm một nẻo", "tiền hậu bất nhất" liệu có xây dựng được "niềm tin chiến lược" với các nước lân bang, liệu có xây dựng được mối quan hệ bền vững với các đồng minh chiến lược? Một chính phủ luôn lăm le sử dụng chiêu bài "ỷ đông hiếp cô", bất chấp đạo lí liệu có lấy được lòng người, liệu có thể xây dựng hình ảnh của một cường quốc trong mắt cộng đồng quốc tế?
Liệu có quốc gia nào trong khu vực chấp nhận yêu sách phi lí, chấp nhận mất đi lãnh thổ thiêng liêng hay vùng đặc quyền bất khả xâm phạm của mình cho thế lực ngoại bang? Liệu có chính phủ nào đặt niềm tin vào nơi mà chân lí không được lắng nghe, nơi mà đạo lí không được tôn trọng, nơi mà pháp lí không được tuân thủ hay nơi mà lẽ phải không được tôn vinh?
Liệu người dân trong khu vực và trên thế giới có còn nhìn thấy ở Trung Quốc một quốc gia với những rộng dài lịch sử, với những hiện hữu kì quan của Trường Thành, với những giá trị đề cao tình bằng hữu, sự hòa hảo trong Đức - Đạo của Đạo giáo, với những Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín thấm nhuần từ đạo Khổng? Hay là thay vào đấy, họ mường tượng về hình ảnh một "con ngáo ộp", luôn lăm le ngang dọc gây hấn với láng giềng?
Một "giấc mơ Trung Hoa" sẽ chẳng bao giờ có được thông qua việc phủ nhận "giấc mơ" của nhiều quốc gia khác. Một giấc mơ "theo cách của người Trung Quốc" sẽ trở nên vô nghĩa và lạc điệu nếu nó không cùng nhịp đập với những giá trị nhân bản chung của toàn nhân loại.
Tầm vóc của một quốc gia không nhất thiết phụ thuôc vào diện tích, dân số hay mức độ giàu có. Sức mạnh của một quốc gia không nhất thiết phụ thuộc vào số lượng vũ khí hay quy mô quân đội. Sự trường tồn của một quốc gia sẽ chẳng bao giờ có được nếu quốc gia đó không có bạn hữu, luôn phải lê bước như một kẻ độc hành. Niềm tin, tình bằng hữu, sự hợp tác bền vững sẽ chẳng bao giờ xây dựng được thông qua bạo lực hay sự kẻ cả như thể bề trên.
Với những gì đang diễn ra hiện nay, nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách hiếu chiến, gây hấn với các nước láng giềng, họ sẽ tự làm giảm tầm vóc dân tộc mà tiền nhân để lại, làm suy yếu sức mạnh mà cả tỉ người dân góp nên, đe dọa sự ổn định của đất nước và quan trọng hơn: Khoảng cách giữa họ với các nước trong khu vực và thậm chí là cả phần còn lại của thế giới sẽ trở nên vời vợi. Họ sẽ cô đơn như chưa bao giờ cô đơn, tiếng nói của họ sẽ rơi vào tận cùng của hư vô, vóc dáng dẫu to lớn của họ sẽ trở nên lẻ loi trên mênh mông xa mạc cát. Và khi đó, "giấc mơ Trung Hoa" có lẽ sẽ mãi mãi chỉ là giấc mơ không bao giờ lớn nổi…
