Sự thật không thể phủ nhận
Sự "cầm lái" ở đây, tùy vào từng hoàn cảnh mà ta hiểu đó là về đường hướng chính trị, về điều hành quân sự hay về chính sách ngoại giao (không ít trường hợp là về ngoại giao). Cần nhớ, từng có thời kỳ, Bác vừa là Chủ tịch nước vừa kiêm giữ chức trách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, trong đó, giai đoạn 1945-1946, vai trò ngoại giao của Hồ Chí Minh đã có bước phát triển tuyệt đỉnh, "cứu" cho chính quyền cách mạng còn non trẻ thoát cảnh "ngàn cân treo sợi tóc". Điều này nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã nói tới.
![]() |
| Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp chụp ảnh với một số sĩ quan Mỹ tại Tân Trào trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945. |
Một trong những đặc điểm có tính xuyên suốt trong chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh là làm sao giữ được môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Đã có lúc, vì sự "hòa bình, ổn định, hợp tác, cùng phát triển" ấy (như cách chúng ta hay nói ngày nay), Người đã áp dụng những biện pháp ngoại giao hết sức mềm dẻo, linh hoạt, có chỗ không thể dùng từ khác thay cho mấy chữ "nhẫn nhục" như nhà thơ Tố Hữu đã viết. Thì trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người chẳng đã mở đầu bằng mấy câu: "Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa". Trong Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tổ chức tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tháng 2 năm 1951), Người thậm chí còn dẫn lại một ý của Lênin: "Nếu có lợi cho cách mạng thì dù phải thỏa hiệp với bọn kẻ cướp, chúng ta cũng thỏa hiệp" (xem "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 6, NXB Chính trị Quốc gia, 2000). Nhắc lại điều này để thấy, hòa bình và hợp tác, phát triển luôn là ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại của Hồ Chí Minh.
Sở dĩ tôi phải dẫn giải lòng vòng thế, để đi vào một vụ việc cụ thể: Vừa qua, trên một số trang điện tử, trong đó có các trang của Đài BBC, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, người ta đọc thấy một số ý kiến của những người được gọi là "phe hữu" phản ứng gay gắt với Tổng thống Mỹ Barack Obama. Chẳng là, cuối buổi hội đàm hôm 25/7, Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang đã gửi đến Tổng thống Obama bản sao lá thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cựu Tổng thống Mỹ Harry Truman hồi năm 1946 nói về mong muốn hợp tác và xây dựng hòa bình với nước Mỹ. Nhân sự kiện này, Tổng thống Obama có lời bình luận: "Hồ Chí Minh thực sự có cảm hứng nhờ Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ, và những lời nói của Thomas Jefferson" và "Hồ Chí Minh đã nói ông muốn hợp tác với Hoa Kỳ. Và Chủ tịch Sang bày tỏ rằng ngay cả nếu 67 năm đã trôi qua, thì cũng là điều tốt khi chúng ta còn đang có tiến bộ".
Thiết nghĩ, những lời bình luận trên của Tổng thống Obama là sự thật hiển nhiên, bởi việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn câu nói của cố Tổng thống Thomas Jefferson trong bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ cũng như việc Người soạn thảo bức thư gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman đã được chứng minh trong thực tế. Những người nghiên cứu lịch sử Việt Nam hẳn đều biết rõ điều này. Vậy mà, thật ngược đời, sau lời bình luận trên của Tổng thống Obama, đã có một số nhân vật (cả Mỹ lẫn Việt), vì những lý do riêng nào đó vội vàng lên tiếng chỉ trích ông Obama bằng những lời lẽ mang tính kích động nhằm chống phá Việt Nam. Thậm chí, cây bút Ronald Radosh còn viết thẳng trên tờ Wall Street Journal rằng: "Việc liên hệ giữa những nhà sáng lập Hoa Kỳ và ông Hồ cho thấy hoặc tổng thống vô cùng thiếu hiểu biết lịch sử hoặc chứng tỏ sự mềm dẻo đạo đức đáng ngạc nhiên". Theo ý ông này thì Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ quan tâm đạt được các "mục tiêu cộng sản", còn việc nhắc tới Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ chỉ là cái cớ. Ở đây, xin được nói ngay: Không phải Tổng thống Obama mà chính cây bút Ronald Radosh mới là người "vô cùng thiếu hiểu biết lịch sử". Chẳng nói đâu xa, hãy đọc ngay những nhận xét của người Mỹ đã được in trong cuốn "OSS và Hồ Chí Minh - đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật" của tác giả Dixee R. Bartholomew - Feix (sách đã được dịch ra tiếng Việt, do NXB Thế giới ấn hành năm 2007), chúng ta sẽ thấy thực chất vấn đề này là như thế nào. Đây là đoạn nói về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập: "Theo lời Dan Phelan, Hồ Chí Minh đã từng suy nghĩ về bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ trong vài tháng trời. Ngay sau khi Phelan nhảy dù xuống căn cứ tại Việt Bắc vào tháng năm, hai người đã nói chuyện, trong đó có đề cập đến tài liệu này. Phelan nhớ lại: Ông hỏi tôi có nhớ được cách diễn đạt trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ hay không. Là người Mỹ bình thường nên tôi không thể nhớ hết. Tôi có thể gửi điện về Côn Minh để xin một bản sao đã được gửi cho tôi, dĩ nhiên, nhưng rồi tất cả những gì ông thực sự muốn là phong cách của nó. Càng bàn luận, ông dường như càng nắm rõ thực chất của vấn đề hơn tôi" (trang 367). Ở những trang cuối cùng của cuốn sách, liên quan tới bước thăng trầm của quan hệ Việt - Mỹ, tác giả Dixee R. Bartholomew - Feix đã có cách phân tích vấn đề rất sòng phẳng. Sau khi đặt câu hỏi, liệu các nhân viên Mỹ từng giúp đỡ, ủng hộ Việt Minh trong cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật năm 1945 có cung cấp cho nước Mỹ sự hiểu biết sâu sắc có thể giúp ngăn chặn cuộc chiến tranh Việt - Mỹ sau này không, tác giả đã giải đáp bằng câu trả lời của một người trong cuộc - ông Goerge Wickes - rằng "Những bức điện chúng tôi gửi về Washington tiên liệu chính xác những gì rốt cục sẽ xảy ra nếu Pháp cố tình phủ nhận nền độc lập của Việt Nam". Tuy nhiên, theo Dixee R. Bartholomew - Feix thì điều đó - vào thời điểm ấy - không quan trọng đối với nhà cầm quyền Mỹ. Họ có nhiều mối quan tâm hơn vì "xu thế chính trị vào thời điểm đó hoàn toàn khác".
Chỉ với một đôi dẫn chứng như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy, không ai khác, chính các nhà hoạch định chính sách thời Tổng thống Truman đã bỏ qua cơ hội ngàn vàng giúp hai nước Việt - Mỹ có thể cải thiện tình hình và xích lại gần nhau hơn…

