Những lý do chưa có tác phẩm văn chương đỉnh cao

Thứ Ba, 04/02/2014, 08:00

Lao động nhà văn và kết quả lao động nhà văn khác biệt hoàn toàn với những lao động ngành nghề khác. Đó là thứ lao động cô độc nhọc nhằn khiến không biết bao nhiêu người bỏ cuộc, nửa đường đứt gánh; những người sống chết với nghề thì cuối đời cũng không mấy ai gặt hái được vinh quang. Văn chương nước nhà không có tác phẩm đỉnh cao nhân loại. Vì đâu nên nỗi?

LTS: Trong 2 ngày 27 và 28/11/2013, tại Hội trường T78, Tp HCM, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc "Văn học nghệ thuật trong 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII: Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao - Thực trạng và giải pháp".

Tại hội thảo này, cùng với nhiều nhà văn, nhiều nghệ sĩ tên tuổi, nhà văn Sương Nguyệt Minh - Phó Chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam đã có bài phát biểu và bản tham luận của anh đã gây ấn tượng với nhiều đại biểu bởi cách đặt vấn đề thẳng thắn, tâm huyết và trách nhiệm. Tất nhiên, với một nội dung có diện bao quát lớn, đề cập tới một vấn đề không kém phần phức tạp, các ý kiến của một nhà văn dù thông tuệ đến đâu cũng chỉ mang tính chất tham khảo. Rất mong sau bài viết này, chúng tôi tiếp tục nhận được sự quan tâm trao đổi của quý bạn đọc và các đồng nghiệp...

Lao động nhà văn và kết quả lao động nhà văn khác biệt hoàn toàn với những lao động ngành nghề khác. Đó là thứ lao động cô độc nhọc nhằn khiến không biết bao nhiêu người bỏ cuộc, nửa đường đứt gánh; những người sống chết với nghề thì cuối đời cũng không mấy ai gặt hái được vinh quang. Văn chương nước nhà không có tác phẩm đỉnh cao nhân loại. Vì đâu nên nỗi? 

1. Chưa xuất hiện thiên tài văn chương

Cái điều đầu tiên xưa như trái đất, hầu như ai cũng biết là có tài năng văn chương thì mới có tác phẩm lớn, còn tác phẩm vĩ đại thuộc hàng đỉnh cao nhân loại thì phải cần đến thiên tài văn chương.

Ở tuổi 24, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã viết nên thiên tiểu thuyết "Số đỏ" mà bản dịch tiếng Anh được nhật báo Los Angeles Times bình chọn là 1 trong 50 tác phẩm hay nhất nước Mỹ. Trong ảnh: Cảnh trong phim "Số đỏ" chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Vũ Trọng Phụng.

Nhà văn hóa Phạm Văn Đồng từng nói: "Nếu không có tài năng gì đặc biệt thì anh nên đi làm việc khác, chứ làm văn nghệ khổ lắm". Một học sinh bình thường tốt nghiệp lớp 12, sau mấy năm học Đại học Y khoa, tốt nghiệp ra trường là hành nghề bác sĩ được ngay. Một người bình thường không có năng khiếu văn chương, học bằng ấy thời gian, chắc chắn không thể thành văn sĩ.

Ông Lê Lựu nói rằng: Thời học sinh phổ thông, ông không giỏi văn. Vâng! Nếu giỏi văn thì ông đã đi làm nhà lý luận - phê bình. Văn học nhà trường không đào tạo được nhà văn mà chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho nhà văn tương lai. Cái năng khiếu văn chương nó bộc lộ ở cái tài quan sát và cảm nhận sự vật hiện tượng đời sống, sau đó là chọn cái gì, rồi biểu đạt thông điệp người viết bằng ngôn ngữ ra sao. Cũng là một câu chuyện, người thì kể vô duyên nhạt thếch, hoặc kể ấp úng, rời rạc, lộn xộn...; người thì kể có duyên, tinh tế gợi cảm; người lại kể khúc chiết cảm động, da diết... đều do cái tạng tài năng hay không tài năng mà ra.

Nền văn học Việt Nam đương đại có tài năng văn chương không? Nguyễn Trãi viết: "Tuấn kiệt như sao buổi sớm. Nhân tài như lá mùa thu". Ban đêm thì mới nhiều sao, mùa xuân thì lá mới lắm. Bình minh, trăng sao bị ánh sáng mặt trời che khuất, chỉ còn những tinh tú quá sáng mắt thường mới nhìn thấy. Mùa thu, lá vàng rụng tơi bời, có loại cây trút hết lá chỉ còn cành xương xẩu, lá xanh trụ lại trên cành rất ít. Tài năng thì thời nào cũng có, nhưng mà hiếm hoi. Hiếm nên mới quý!

Vũ Trọng Phụng in truyện ngắn "Chống nạng lên đường" trên Ngọ báo năm 18 tuổi. Ông sống 27 năm trên dương thế, chỉ 10 năm sáng tác đã làm xong sự nghiệp văn chương lớn, mà đến nay biết bao nhiêu nhà văn phải ước mong thèm muốn mà không được.

Trần Đăng Khoa được gọi là thần đồng thơ thời hiện đại. Chỉ 8 tuổi, ông đã in thơ trên báo, 10 tuổi in tập thơ đầu tay "Từ góc sân nhà em".

Không có tài năng, chắc chắn Vũ Trọng Phụng không viết được tiểu thuyết "Số đỏ" năm 24 tuổi, bản dịch tiếng Anh được nhật báo Los Angeles Times bình chọn là 1 trong 50 tác phẩm hay nhất nước Mỹ. Vũ Trọng Phụng là một tài năng văn chương.

Không có tài năng, chắc chắn lúc 10 tuổi, cậu bé Trần Đăng Khoa không thể viết được câu thơ: "Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng" tinh tế sâu đằm, thần tình. Trần Đăng Khoa là một tài năng văn chương. Còn ví dụ như tôi - Sương Nguyệt Minh chỉ là năng khiếu văn chương.

Cho dù "Tuấn kiệt như sao buổi sớm. Nhân tài như lá mùa thu" thì nền văn học đương đại Việt Nam vẫn có tài năng văn chương, nhưng thiên tài văn chương thì có lẽ còn phải chờ đợi. Nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thế giới thiếu vắng thiên tài văn chương chứ không chỉ Việt Nam ta.

2. Thiếu vắng nhà văn có tư tưởng lớn

Tác phẩm đỉnh cao dứt khoát chứa tư tưởng lớn và cha đẻ của nó phải là nhà văn có tư tưởng lớn. Nhà văn không có tư tưởng, viết bản năng, ăn may, được chăng hay chớ... không bao giờ làm nên tác phẩm mang tư tưởng thời đại. Mà không có tác phẩm mang tư tưởng thời đại thì lấy đâu ra tác phẩm đỉnh cao nhân loại?

Tư tưởng lớn nhà văn không thể sinh ra đã có ngay, mà là quá trình "tập đại thành". Đó là hành trình nhọc nhằn tích lũy tri thức văn hóa, triết học, lịch sử, ngoại ngữ vv… Và có được những yếu tố ấy rồi thì nhà văn phải ngẫm nghĩ về số phận nhân loại, thân phận con người, về tiến bộ xã hội...; nhà văn phải mang nỗi đau nhân tình hướng đến tư tưởng bình đẳng, tự do, bác ái, hướng đến giá trị chân - thiện - mỹ... thì mới ra tư tưởng lớn.

Nguyễn Du trước khi viết "Truyện Kiều", ông đã là nhà nho đọc được Tứ thư, Ngũ kinh, đọc Đạo đức kinh; tư tưởng của các nhà triết học Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử không xa lạ gì với Nguyễn Du. Các nhà văn lớn thế giới không thể thiếu sách triết học, mỹ học của Aristoteles, của Hegel, Nietzsche... Rất tiếc, một thời gian dài các nhà văn Việt Nam không tiếp cận được kho tàng triết học, mỹ học nhân loại, chỉ biết đến Triết học, mỹ học Marx - Lenin được trang bị một cách sơ giản, nhưng học và đọc cũng không đến đầu đến đũa. Hiểu biết về các tôn giáo lớn, thần học, dân tộc học... cũng rất hạn chế.

Nhà văn có tư tưởng lớn còn phải người đi nhiều mới biết lắm. L.Tolstoy, Dostoevsky, Pushkin từ nước Nga thường xuyên đi Paris và các nước châu Âu khác. Victor Hugo đi khắp châu Âu, bị đi đày ở Bỉ, sau đó là đảo Jersey và Guernesey. Hemingway đi khắp châu Mỹ, có mặt ở chiến trường Italia trong thế chiến thứ nhất, làm phóng viên trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha... Thử hỏi, các nhà văn Việt Nam có ai từng trải, vật vạ, bước ra khỏi biên giới đến những chân trời mới lạ, đi lắm biết nhiều... như thế? Nếu có, thì họ đi với tư cách là một viên chức đi công cán, một khách du lịch cưỡi ngựa xem hoa, chứ mấy người đi với tư cách nhà văn... sống để viết?

3. Chưa đam mê quyết liệt, không dấn thân tận cùng

Nhà văn cần dấn thân vào đời sống, có đam mê, có ý chí quyết liệt "sống chết" với tác phẩm mình định viết. Cái điều này rất ít nhà văn Việt Nam làm được. Quan niệm văn chương là "nghiệp" vẫn phổ biến trong tư duy của số đông nhà văn nên lúc thích thì viết, lúc bận việc khác thì gác bút, có người gác mãi không viết nữa, hoặc vài ba năm, chục năm sau mới viết. Văn chương phải được coi là nghề nghiệp mới lao động chuyên nghiệp, mới dấn thân vào đời sống. Bá tước, nhà văn L.Tolstoy thường mua vé xe lửa hạng bét để được gặp gỡ, nói chuyện với người lao động cùng đinh trong xã hội. 

Sinh thời, thi hào Nga Pushkin đã đặt chân tới nhiều vùng đất.

Trí tưởng tượng nhà văn dù phong phú, bay bổng đến bao nhiêu cũng không bao giờ đa dạng thiên hình vạn trạng như cuộc sống sinh động. Hầu hết nhà văn công chức Nhà nước, thời gian dành cho văn chương rất ít. Vài ba trại viết, mấy đợt đi thực tế về nông thôn, về công xưởng, nhà máy... nhà văn không thu nhận được gì nhiều, ngoài cái việc được nhất là lấy lại cảm xúc sáng tác. Xa rời đời sống, không gắn bó với nhân vật văn học tương lai của mình - đấy là điều phổ biến đối với nhà văn hiện nay. Tình trạng nhà văn viết về nhân vật mà không hiểu lời ăn tiếng nói - ngôn ngữ, tâm trạng, phong cách sống, cá tính nhân vật, chính là bi kịch có tài năng nhưng ở tháp ngà, salông, đứng mon men ở bên ngoài đời sống. Nhà văn phải khai thác chất liệu - quặng thô ở hiện thực cuộc sống mới "có bột" để "gột nên hồ", để tinh chế thành vàng ròng chứ không thể rập đúc ra... thau. Nhà văn không dấn thân sẽ không hiểu đời sống, hoặc hiểu không đến nơi đến chốn, tất sẽ viết sậm sựt, gượng gạo... thì lấy đâu ra tác phẩm hay, nói gì đến tác phẩm đỉnh cao.

4. Nhà văn Việt Nam đang bị tán tài

Rất hiếm nhà văn Việt Nam hiện nay chỉ làm mỗi một việc là... viết văn. Cùng một lúc, nhà văn vừa phải làm công việc của một viên chức, vừa sáng tác. Hầu hết nhà văn Việt Nam hiện nay là nhà văn công chức, làm việc ăn lương ở một cơ quan Nhà nước và... viết văn bằng tay trái. Cái công việc của viên chức bắt buộc nhà văn phải 8 giờ vàng ngọc ở cơ quan, ở nhà xuất bản, ở các hội văn nghệ, ở các báo, tạp chí... Một bộ phận không ít nhà văn đang cùng lúc mang nhiều phận sự: đảng viên, cấp ủy, thủ trưởng, hay thủ phó cơ quan, cán bộ công đoàn, ban chấp hành hội đoàn kiêm nhiệm... và trách nhiệm nhà văn.

Chuyện cơm áo mưu sinh kiếm tiền nuôi bản thân, nuôi vợ nuôi con, xây nhà cửa, ổn định cuộc sống cũng chiếm quá nhiều thời gian sáng tác. Nhà văn Việt Nam hiện nay, để ổn định cuộc sống kinh tế gia đình, không quá vướng bận các việc mưu sinh để chuyên vào sáng tác thì cũng mất toi 20 năm trong cuộc đời, có khi ổn định thì đã quá cái độ tuổi sáng tác sung sức nhất. Tán tài, không tập trung tâm trí sức lực cho văn chương và sống bằng văn chương cũng là một trong những nguyên nhân không có tác phẩm lớn.

5. Nhà văn thiếu sự liên tài

Giai thoại kể lại rằng: Lúc sinh thời, đại văn hào Dostoevsky - tác giả của "Tội ác và trừng phạt", "Anh em nhà Karamazov" với đại văn hào L. Tolstoy, cha đẻ của "Chiến tranh và hòa bình", "Anna Karenina" dường như hai ông lạnh nhạt với nhau. Nhưng, sau khi L.Tolstoy mất, người ta thấy trên bàn viết của ông có quyển "Anh em nhà Karamadzov" đang đọc dở. Hai con hổ không sống chung một rừng. Ở hai vĩ nhân này, dù bằng mặt không bằng lòng, nhưng câu chuyện đọc tác phẩm của nhau chứng tỏ các ông quá lớn để phục tài nhau.

Thời gian quá lớn dành cho việc mưu sinh cũng khiến nhiều nhà văn bị tán tài (ảnh chỉ mang tính chất minh họa).

Các nhà văn Việt Nam hiện nay có phục tài nhau không? Tôi chưa thấy một nhà văn nào dám nói công khai đại loại những câu như: "Cái tay X ấy nó viết hay hơn mình". Hoặc: "Ông Y viết hay quá. Còn lâu mình mới viết được như thế" v.v... Phần lớn là "văn mình, vợ người".

Một khi biết để người khổng lồ khác đứng trên vai mình thì mới đo được cái bóng của họ. Khả năng liên tài bao giờ cũng vượt qua tính đố kị, ghen ghét, nhỏ nhen và mới toàn tâm toàn trí dành cho tác phẩm. Còn nhăm nhăm nhằm đến nhà văn này, nhà thơ kia, nhà phê bình nọ để bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu để "đánh", để hạ bệ; còn vấn vương lòng ganh tị, còn mang nặng lòng kiêu ngạo "văn mình, vợ người" thì nhà văn chưa đủ lớn để sáng tạo ra tác phẩm hay, chứ nói gì đến tác phẩm đỉnh cao.

6. Nhà văn thiếu những bi kịch lớn

Người ta có làm phép thống kê, nhiều nhà văn thiên tài lại hay bị "trời đày", phải sống trong nghịch cảnh thê thảm. Đối với người bình thường, nỗi bất hạnh sẽ là bi kịch, nhưng đối với nhà văn đôi khi bất hạnh lại trở thành "tài sản". Tất nhiên, cái sự bất hạnh ấy phải là "trời giáng", chứ dù là nhà văn thì chẳng ai lại cố tình tạo ra bất hạnh của mình để viết hay hơn.

Dostoevsky vĩ đại luôn bị cảnh nghèo đói uy hiếp, giày vò. Vợ ông mắc bệnh lao, sau khi bà chết, chứng động kinh của ông lại nặng thêm. Ông lấy người thư ký kém ông 26 tuổi, nhưng đời sống vẫn ngập trong nợ nần, phải trốn nợ chạy khỏi nước Nga và sống lưu vong ở châu Âu. Đứa con ông cũng chết yểu. Trở lại ngước Nga ở tuổi 50 nhưng cảnh đói nghèo, bệnh tật vẫn không buông tha ông. 

Lev Tolstoy nửa sau cuộc đời đã từ bỏ cuộc sống quý tộc thượng lưu để sống một đời giản dị của người nông dân. Chính vì thế ông mâu thuẫn với bà vợ kém ông tới 17 tuổi, rất háo danh, sống xa hoa, giàu có, hằng ngày luôn đay nghiến, xỉ vả ông. Chán chường, ông bỏ trang trại giàu có, rộng mênh mông ra đi để tìm nơi yên lành. Vào một ngày tuyết rơi tơi bời, ông già Tolstoy 82 tuổi đã chết ở một ga xe lửa hẻo lánh vì sưng phổi.

Victor Hugo có số phận rất bất hạnh: Vợ phản bội, cặp bồ với người bạn ông là một nhà phê bình. Con gái và con rể chết trẻ đột ngột. Ông bị đi đày ở Bỉ, sau đó là đảo Jersey và Guernesey, sống lưu vong 25 năm xa tổ quốc.

Bất hạnh tình yêu cũng là bi kịch của nhiều nhà văn lớn. Lỗ Tấn suốt đời không yêu vợ bởi bị gia đình bắt cưới một người con gái không đẹp, ông không có cảm tình. Turgenev ba lần thất bại tình duyên...

Vũ Trọng Phụng chỉ sống 27 năm cuộc đời, sống và viết trong nợ nần và đói nghèo, chết vì bệnh lao phổi. Ông từng phải thốt lên với nhà văn Vũ Bằng: "Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này". Hàn Mặc Tử thì chết trẻ ở Nhà thương Quy Hòa vì bệnh hủi...

Nhà văn Việt Nam hiện nay, dù không giàu có như một số người ở ngành nghề khác nhưng nhiều người cuộc sống ổn định. Đa số làm công chức Nhà nước, lĩnh lương đủ sống. Không ít người làm quan chức, cuộc sống khá giả, có nhà lầu xe hơi, vợ đẹp, con khôn, đi nước ngoài công tác, du lịch... như đi chợ. Đời sống tốt, gia đình hạnh phúc là điều rất mừng, nhà văn không phải loay hoay kiếm tiền mưu sinh, có nhiều thời gian để sáng tác hay; nhưng điều này chỉ đúng với người dốc sức cho văn chương, chứ không đúng với người thời gian đi công cán nước ngoài, đi họp hành, đi nhậu nhẹt nhiều hơn sáng tác.

Văn là đời. Bất hạnh trong cuộc đời tạo nên bi kịch khiến nhà văn luôn đau đớn, dằn vặt, giày vò vì nó, khắc khoải vì nó. Chất liệu văn chương và điệu tâm hồn bắt đầu từ chính nghịch cảnh đó. Tác phẩm lớn được hình thành, một phần cũng từ những bi kịch, nghịch cảnh ấy.

7. Nhà văn tự biên tập, triệt tiêu dần bản sắc của mình

Ngoài chuyện biên tập cho văn phong nhuần nhị, chuẩn xác hơn, cấu tứ câu chuyện ấn tượng hơn, nghĩa là những việc thuần túy được coi là "chuyện nghề", đã có những bối cảnh, vì lợi ích chung của cộng đồng, nhà văn phải chịu sự biên tập về nội dung tư tưởng để tác phẩm có thể đến tay bạn đọc và được bạn đọc chấp nhận. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một thực tế là đã có thời, cái vòng cấm, cái khu vực nhạy cảm quá mơ hồ đến mức nhà văn bị bó chân, bó tay mà không biết mình bị ai bó, bị bó như thế nào. Thế rồi cái tình trạng tự biên tập thái quá, biên tập thiếu bản lĩnh của nhà văn chẳng biết trở thành căn bệnh nặng từ bao giờ, mà hầu như nhà văn nào cũng sợ sệt tự cắt bỏ phần "nhạy cảm" trong tác phẩm của mình. Thậm chí, có người run rẩy còn biên tập từ trong ý nghĩ, từ lúc còn làm đề cương.

Nếu ai cũng viết trong tâm trạng như thế sẽ trở thành một dàn đồng ca, không có giọng riêng, không sắc thái riêng, không ý tưởng riêng, bởi vô tình nhà văn bị bao cấp cả trong... ý tưởng.

Thực trạng ấy phổ biến trong xã hội và cá nhân nhà văn, được minh chứng bằng chính câu nói nổi tiếng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: "Trước hết nghệ sĩ phải tự cởi trói cho mình". Bản lĩnh nhà văn yếu đuối, văn tài nhà văn mức độ nên không chiến thắng nổi cái anh biên tập cụ thể và vô hình, thế thì làm sao mà có tác phẩm hay, nói gì đến tác phẩm đỉnh cao.

8. Một nền phê bình yếu và thiếu cũng không kích thích sáng tạo văn chương

Lâu nay, văn đàn rất ít được chứng kiến những cuộc "luận chiến" văn chương một cách khoa học, khách quan. Điểm sách là chủ yếu và tràn lan trên các trang báo, phần lớn là khen chứ chê rất ít.

Có nhiều nhà phê bình đã mệt mỏi sau các cuộc tranh cãi lúc đầu mang tính học thuật, sau đó quá mù ra mưa, dẫn đến móc máy, sát phạt làm tổn thương nhau, rồi chán, bỏ cuộc và quay sang làm nghiên cứu.

Có nhà phê bình nói rằng, văn chương phải có gì thì phê bình mới có cái để nói. Nhà thơ Trần Đăng Khoa viết trong "Chân dung và Đối thoại": "Có thể có một tác phẩm phê bình hay về một cuốn sách dở và ngược lại". Tôi chưa thấy nhà phê bình nào làm được cái việc như nhà thơ Trần Đăng Khoa nói.

Một sinh hoạt văn chương thường xuyên với những cuộc tranh luận, phê bình tác giả tác phẩm rất cần thiết đối với người sáng tác. Nhà phê bình đồng hành với nhà văn. Phê bình gây men tạo chất xúc tác cho giới sáng tác, phát hiện những viên ngọc còn trong bóng tối, đưa các tác phẩm hay còn đang khuất nẻo ra công luận... là những việc rất cần thiết đối với hoạt động sáng tác. Tiếc thay, trong tình hình hiện nay, lý luận - phê bình văn học chưa giúp được gì nhiều lắm cho nhà văn

Sương Nguyệt Minh (Xuân 2014)
.
.
.