Đôi điều về chuyện "xử án" của Thuý Kiều đối với Hoạn Thư

Thứ Năm, 19/09/2013, 08:00

Trong "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du, đoạn "xử án" của Thúy Kiều đối với Hoạn Thư được nhiều người quan tâm và trích đoạn đó cũng đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Cuối cùng thì nàng Kiều đã "Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay". Vấn đề Hoạn Thư được tha, có ý kiến cho rằng do thái độ, lời nói khôn ngoan mà Hoạn Thư thoát tội. Có người lại cho rằng Thúy Kiều cao thượng, giữ ý, sợ "Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen" (câu 2.376) v.v... và v.v... Người viết bài này có một cách nhìn cơ bản khác, xin phép được trình ý kiến của mình trước quý vị bạn đọc.

Một lần, Thúy Kiều nói với Từ Hải: "Tấm thân rày đã nhẹ nhàng/ Chút còn ân oán đôi đường chưa xong" và kể về cuộc đời chìm nổi của mình. Từ Hải mời những người có công với nàng Kiều để Kiều trả ơn và bắt những người có tội để nàng xét xử. Trong thâm tâm, nàng Kiều rất muốn xử tội Hoạn Thư - người đã gây bao đau khổ cho mình. Nàng đã nói rõ điều này với Từ Hải: "Báo ân rồi sẽ trả thù" và nói với mụ quản gia, sư Giác Duyên "xin hãy rốn ngồi/ Xem cho rõ mặt biết tôi báo thù". "Trả thù", "báo thù" là làm hại lại người đã làm hại mình. Nêu lời nói của nàng Kiều như vậy để thấy: Nàng ôm mối hận rất lớn, lòng nàng sôi sục nỗi căm hờn, muốn trả thù mạnh mẽ kẻ đã gây ra đau khổ cho nàng. Mong muốn thì như vậy nhưng việc trả thù lại không thể diễn ra dễ dàng tí nào. Có người cho rằng quyền ở trong tay, muốn làm gì mà chẳng được! Không phải vậy. Việc nàng Kiều xét xử không chỉ có "Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư" mà còn có "Ba quân đông mặt pháp trường/ Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi". Điều đó có nghĩa là người xét xử không thể tự tiện muốn xử thế nào cũng được, muốn định tội ra sao cũng được! Muốn mọi người (Hoạn Thư, "Ba quân...") "tâm phục, khẩu phục" thì người xét xử phải định rõ được tội trạng, qua những "chứng cứ " và "lời cung". Nói đến "chứng cứ" là nói đến sự thật khách quan đã xảy ra, không phụ thuộc vào ý chủ quan của ai đó. Vậy những "chứng cứ" nào định rõ được tội của Hoạn Thư? Có lẽ nàng Kiều (và người đời) nghĩ đến các tội sau: ghen, chủ mưu bắt cóc... và làm nhục người khác. Thử tìm "chứng cứ" xem sao? Về cái gọi là "tội ghen" thì từ xưa đến nay không thấy có pháp luật thành văn (và không thành văn) nào ghi rõ "tội ghen" và khung hình phạt của tội này mà chỉ có những hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội (do ghen tuông) của đối tượng gây ra. Như vậy nói rằng Hoạn Thư ghen thì có ghen thật ("Từ nghe vườn mới thêm hoa/ Miệng người đã lắm tin nhà thì không/ Lửa tâm càng dập càng nồng") nhưng biểu hiện thế nào thì không có chứng cứ kết tội. Thế Hoạn Thư là kẻ chủ mưu thì sao?

Vâng, đúng Hoạn Thư là kẻ chủ mưu. Theo lời tác giả (Nguyễn Du tiên sinh) kể thì Hoạn Thư nói với mẹ đẻ (Hoạn phu nhân) "Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày" và bàn rõ cách thức tiến hành ra sao... rồi để Hoạn phu nhân sai gia nhân (Khuyển, Ưng) làm, đánh thuốc mê rồi bắt Kiều về nhà phu nhân của quan bộ Lại. Ta (người đọc) biết rõ sự chủ mưu đó là nhờ lời kể của tác giả chứ nàng Kiều làm thế nào mà biết được kẻ chủ mưu là Hoạn Thư! Có thể sau này "nghe người ta nói" thì biết nhưng "nghe hóng" không thể là chứng cứ được; kể cả khi Thúc Sinh về thăm nhà, Hoạn thư đã gọi nàng ra lạy mừng thì lúc ấy Kiều mới "Bây giờ tình mới rõ tình/ Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai". Nàng cảm thấy các việc xảy ra (bắt cóc đưa về nhà Hoạn phu nhân rồi từ đó cho sang nhà Hoạn Thư) là do Hoạn Thư chủ mưu. Đã gọi là "cảm thấy" thì cũng không thể lấy đó làm chứng cứ để định tội được. Thế còn tội "làm nhục người khác" thì sao? Ta dễ dàng nhận thấy: Khi mở tiệc "tẩy trần", "giải phiền đêm thu", Hoạn Thư "Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi" rồi "Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay" lại còn dọa: "Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn". Hoạn Thư lại còn bắt nàng đánh đàn. Tiếng đàn làm cho "Người ngoài (tức Hoạn Thư) cười nụ, người trong (Kiều và Thúc Sinh) khóc thầm!". Xem các cách đó, ta thấy Hoạn Thư không có thái độ, hành vi nào làm nhục người khác. Nàng hoàn toàn làm đúng chức năng của người chủ là bảo ban "người ở" của mình làm những việc cần thiết. Còn việc đau khổ, khóc lóc giữa hai người là do họ tự thấy lâm vào hoàn cảnh trớ trêu (là vợ - chồng thành ra con ở và ông chủ...) mà cảm xúc đau đớn đến với họ. Tất nhiên những tình huống ấy do Hoạn Thư tạo ra nhưng không thể bắt bẻ, kết tội được.

Cảnh trong một vở kịch: Thúy Kiều báo ân báo oán.

Đọc những phần trình bày ở trên, phải chăng ta đã làm "thầy cãi", cãi hộ cho tội trạng của Hoạn Thư? Không! Ngay "quan tòa" Thúy Kiều làm cái việc xét xử, tuy rất cay cú, rất muốn trả thù mà cũng không kể tên được một tội trạng nào, đành mượn lối nói châm biếm, mỉa mai, nhiếc móc... theo đúng tính chất đàn bà (xin lỗi các quý bà, các quý phu nhân, các quý chị): "Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?" (đến nơi "Trướng hùm mở giữa trung quân") và "Đàn bà dễ có mấy tay/ Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan". Những lời mỉa mai, nhiếc móc ấy chỉ là do tức quá văng ra của kẻ từng là bị hại chứ không phải lời nói của "quan tòa". "Quan tòa" không nêu ra được chứng cứ, tội trạng nào của "bị cáo" đành nghe "bị cáo" Hoạn Thư nói: "Rằng tôi chút phận đàn bà/ Ghen tuông thì cũng người ta thường tình". Hai câu này nói lên một sự thật hiển nhiên, không những nàng Kiều mà "Ba quân đông mặt" đều phải thừa nhận vì đó là thông thường, mọi người đều thế chứ không phải là điều đặc biệt gì của riêng Hoạn Thư. Sang câu 3,4: "Nghĩ cho khi gác viết kinh/ Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo". Ở cặp câu này thì "Ba quân..." không thể hiểu nổi nội dung chứa đựng những gì nhưng nàng Kiều thì hiểu rất rõ vì nàng là người trong cuộc (tình tự với Thúc Sinh, sau đó trốn đi mang theo "chuông vàng khánh bạc") mà Hoạn Thư là người chứng kiến, là người bắt quả tang, lại không tỏ thái độ gì. Cái hay, cái khéo của Hoạn Thư không nói mình "nghĩ" (mang tính chủ quan) mà đẩy nàng Kiều "nghĩ cho", "nghĩ" ở đây là "nhớ" (Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm), "cho" là "hộ, giúp". "Nghĩ cho" là nhớ lại hộ việc đã xảy ra ở gác viết kinh (thật là khách quan!).

Ở cặp câu thứ ba: "Lòng riêng riêng những kính yêu/ Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai", Kiều chắc chắn hiểu điều đó là sự thật, không phải lời nói "mép" của Hoạn Thư. Trước mặt nàng Kiều, Hoạn Thư nói với Thúc Sinh "Rằng tài nên trọng mà tình nên thương/ Ví chăng có số giầu sang/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên". Thế thì không tin sao được! Còn câu 6 thì quá rõ: tính phổ biến chứ không phải chỉ riêng Hoạn Thư. Hai câu cuối cùng: "Trót đà gây việc chông gai/ Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?" càng cho ta thấy "con quan Lại bộ" khôn ngoan biết chừng nào! Hoạn Thư chỉ nhận "trót" tức là lỡ làm cái việc trái với ý muốn của mình (ví dụ: trót đánh vỡ cái bát) nên sinh ra những việc rắc rối (việc chông gai) cho nàng Kiều, còn việc xử thế nào là "còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng? (Chữ "bài" ở đây nghĩa là "cách", "theo cách" (ví dụ: đánh bài chuồn hả = tìm cách chuồn hả). Tám câu của Hoạn Thư vừa nêu trên là sự thật, là sự khôn ngoan của Hoạn Thư trước người xét xử là nàng Kiều, đặt người xét xử vào tình huống: tuyên án sao đây? Nếu chỉ có một vai là "quan tòa" thì nàng Kiều sẽ tuyên bố: "Không có chứng cứ nào định rõ tội của Hoạn Thư, "bị cáo" lại khai đúng sự thật, thái độ đúng mực vì vậy tuyên bố Hoạn Thư vô tội, phải tha ngay", nhưng tiếc thay bên cạnh vai trò "quan tòa" lại là vai "người bị hại" luôn "cảm thấy Hoạn Thư có tội" (như đã phân tích ở phần trên) nên không thể tuyên bố thẳng thừng được. Tha thì vẫn tha nhưng phải có cái cớ nào đó. Cớ đó là khen Hoạn Thư: "Khen cho: - thật đã nên rằng/ Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời". "Khen" là nêu lên cái hay, cái tốt của người khác, ở đây là lời đánh giá về Hoạn Thư. "Khen cho": từ "cho" là đứng sau một mệnh đề để nhấn mạnh vào một điều gì đó (ví dụ: xin hiểu cho, xin nhớ cho). Lời đánh giá được nhấn mạnh thế nào? - "Thật đã nên rằng". "Thật" là sự thực, là đúng với cái đã có, đúng với việc đã xảy ra. "Nên" là "đáng" (ví dụ: việc nên làm = việc đáng làm). Tóm lại, Kiều nhấn mạnh cái hay, cái tốt của Hoạn Thư là đã nói đúng sự thực, nói ra cái điều đáng phải nói. Kiều lại còn đánh giá về sự khéo léo cư xử đến mức độ ("Khôn ngoan đến mực") không ai biết, chỉ hai người trong cuộc biết với nhau (ý này đã phân tích rõ ở phần trên). Thật là một sự đánh giá chính xác, khách quan! Điều tất yếu sẽ đến là: "Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay". Chính điều này càng làm ta không những cảm thông mà còn trọng sự hiểu biết, sự trung thực của nàng Kiều đã vượt qua sự bực tức cá nhân để tôn trọng lẽ phải trên đời.

Kẻ hậu sinh này xin được thắp một nén nhang kính cẩn dâng lên Tố Như tiên sinh để tỏ lòng biết ơn Người đã để lại cho con cháu đời sau bài học sâu sắc về hai nhân vật phụ nữ: Hoạn Thư và Thúy Kiều, một bài học sâu sắc muôn đời phải suy ngẫm, ngẫm suy trong những bước thăng trầm của mỗi cuộc đời chúng ta

Nguyễn Duy Hiển
.
.
.