Cần chú thích lại một số chú thích trong sách Ngữ văn 11
Chú thích là một công việc cực kì quan trọng trong kĩ năng đọc hiểu văn bản của học sinh. Chú thích có thể ví như "chiếc cầu nối ngôn ngữ" giúp học sinh có thể lĩnh hội nghĩa của những từ lạ, từ cổ một cách thuận lợi nhất, tạo tiền đề để học sinh liên hội nghĩa với những từ còn lại trong câu, từ đó hình thành nghĩa của cả câu một cách hoàn chỉnh. Tuy nhiên công việc quan trọng này lại chưa được quan tâm một cách đúng mực trong một số bài ở sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 11 (Nâng cao và chuẩn).
Xin nêu một số ví dụ.
1. Trong sách Ngữ văn 11 nâng cao:
- Chú thích trong bài "Xin lập khoa luật" của Nguyễn Trường Tộ:
Gia Long: niên hiệu vua Nguyễn Ánh những năm 1802 - 1819.
Theo tôi, ta không nên diễn đạt là "vua Nguyễn Ánh", "vua Nguyễn Huệ" vì Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ là tên tục, không phải niên hiệu (tức danh xưng của vua chúa được công bố trong thời gian trị vì để mọi người có thể gọi thay cho tên húy). Thay vì cách nói này, người ta thường nói vua Gia Long, vua Quang Trung.
- Chú thích trong bài "Xuất dương lưu biệt" của Phan Bội Châu:
Hiền thánh: tức thánh hiền
SGK chú thích như thế rõ ràng học sinh cũng chẳng nắm bắt được gì hơn ngoài sự đổi vị trí theo kiểu phiên từ Hán Việt sang thuần Việt. Theo chúng tôi nội hàm của từ Hiền Thánh khá rộng, nên chú thích là: "Đây là từ chỉ những bậc đức hạnh tài năng hơn người, thường chỉ những người có công sáng lập và phát triển Nho giáo như: Khổng Tử, Mạnh Tử". Có hiểu như thế mới có thể lí giải được tại sao chữ Nho gọi là chữ thánh hiền, sách dạy chữ Nho như Tứ Thư Ngũ Kinh gọi là sách thánh hiền.
- Chú thích trong bài "Thơ duyên" của Xuân Diệu:
Tiếng huyền: tiếng đàn. Ở đây, tác giả muốn nói tiếng nhạc của thiên nhiên tạo nên bởi sự hoà hợp giữ tiếng chim hót, tiếng gió thổi, tiếng lá reo, v.v...
Theo chúng tôi, nếu chú thích thì nên chú thích thêm một cách hiểu nữa: "Tiếng huyền là những âm thanh huyền diệu của thiên nhiên tạo vật". Nếu như chỉ dừng lại ở một cách hiểu như SGK thì tương đối áp đặt. Bởi lẽ xét về cú pháp của câu thơ và phong cách sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu, chúng ta hoàn toàn có thể hiểu thêm theo cách thứ hai.
- Chú thích trong "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" của Nguyễn Huy Tưởng:
Dã tràng xe cát: (nghĩa ẩn dụ) việc làm tốn công ích.
Thiết nghĩ chú thích như thế là thừa vì "Dã tràng xe cát" vốn là một thành ngữ (Theo "Từ điển giải thích thành ngữ Tiếng việt" - NXB Giáo dục, 1995), nên không cần phải chua thêm nghĩa ẩn dụ làm gì.
2. Chú thích trong Ngữ văn 11 chuẩn:
- Chú thích trong bài "Tương tư" của Nguyễn Bính:
Cau liên phòng: loại cau rất thấp và có quả quanh năm
Tác giả soạn SGK chú thích như thế chưa đủ, mới chỉ đưa ra được một nghĩa. Theo chúng tôi nên bổ sung thêm một nghĩa nữa: "Cau liên phòng còn có thể hiểu: Cau trồng thành nhiều hàng liên tiếp nhau".
- Chú thích trong bài "Hạnh phúc một tang gia" của Vũ Trọng Phụng:
Xuân nữ: một điệu nhạc cử hành trong đám tang
Từ "cử hành" không thể là bổ nghĩa cho từ "điệu nhạc" (trong văn cảnh nêu trên) được. Có thể thay đổi cách diễn đạt như sau: "Xuân nữ: là một điệu nhạc thường được tấu lên trong đám tang".
Những điều chúng tôi trình bày trên đây hoàn toàn xuất phát từ tấm lòng chân thành hưởng ứng công cuộc đổi mới trong việc giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông, mà SGK là một công cụ quan trọng nhất trong việc định hướng sự đổi mới này. Chúng tôi hy vọng những điều chúng tôi thắc mắc sẽ được tập thể các tác giả biên soạn SGK lưu ý. Nếu có gì chưa "chuẩn", xin được lượng thứ. Xin chân thành cảm ơn
