Chuyện kể của những người tự nguyện chi tiền để được... lao động chui

Thứ Tư, 03/12/2014, 09:30
Hậu quả của lao động chui – tức bất hợp pháp ở nước ngoài, ai cũng rõ. Thực tế lao động chui chết do tai nạn không được bồi thường; bị bệnh, tật nguyền thì tự “ôm” lấy... Thế nhưng, chẳng hiểu sao, người lao động ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Giang, Lạng Sơn, Hà Giang..., thậm chí ở thành phố như Hải Phòng cũng bị “dính tai nạn” tự chi tiền để được đi làm chui.

Vẹn nguyên trở về là tốt lắm rồi!

Cô H. sinh ra ở miền núi, là người dân tộc thiểu số. Nhiều vùng của Trung Quốc cũng nói tiếng dân tộc cô H. Vì biết tiếng nên việc cô H. muốn đi lao động ở Trung Quốc cũng không có gì là lạ. Thế nhưng, tự nhiên, cô không thể đi được mà phải có người dẫn mối. Cô H. tâm sự: “Nhà có hai quả đồi, ba con trâu. Đồi toàn trồng vải nên công việc chỉ bận rộn vào mùa thu hoạch và sau vụ cấy đông xuân – chăm bón cho cây vải mất khoảng 20 ngày. Ngoài trồng vải, cấy lúa ra, gia đình tôi không còn nghề phụ khác. Bởi thế, những ngày nông nhàn, tôi muốn kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Ba đứa trẻ vừa đi học, vừa phụ giúp cha việc nhà, đồng áng. Áp lực con học hành, tiền bạc lớn nên tôi phải tìm việc làm bằng mọi giá. Ở quê tôi, rất nhiều người đi lao động nước ngoài hợp pháp, vì là xã 135 – đặc biệt khó khăn nên được ưu tiên. Tôi cũng định đi Đài Loan nhưng chồng không đồng ý nên đành phải đi lao động chui ở Trung Quốc”.

Theo tìm hiểu, chúng tôi được biết, cô H. có tiền sử bệnh tim và dạ dày. Vì thế, cô H. muốn xuất khẩu lao động sang Đài Loan cũng không được. Cô H. nghe theo người giới thiệu, thực chất là môi giới, “cò mồi”, nhanh chóng, tự nguyện bỏ ra hơn 5 triệu đồng để được sang Trung Quốc làm việc chui với mức lương 900 - 1.000 NDT/tháng, tức hơn 30 NDT/ngày (1 NDT quy đổi ra tiền Việt bằng gần 3.380 đồng) trừ tiền ăn, ở, sinh hoạt. Như vậy, một tháng làm việc cật lực, người lao động được từ 3,2 đến gần 3,4 triệu đồng, nhiều nhặn gì mà phải chi tiền môi giới để được làm việc chui. Thấy chúng tôi tần ngần với mức thu nhập quá thấp để có thể đánh đổi thời gian, sức lực, tiền bạc và nỗi nhớ nhà, cô H. ngậm ngùi kể: “Người dân vùng khó khăn, đi lao động Đài Loan, trừ chi phí cũng chỉ để dành được 6-7 triệu đồng/tháng. Đi làm thế này, muốn về lúc nào cũng được, không phải thực hiện những thủ tục rắc rối, không phải vay ngân hàng, ai có tiền thì đi, chẳng tốt hơn sao. Làm việc một tháng, trừ chi phí rồi được trả thù lao 3,5 triệu đồng là tốt rồi. Chúng tôi làm đồi, vườn, chăn nuôi, cấy lúa, vài tháng mới để dành được bằng một tháng đi lao động chui đấy!”.

 “Sao cô về được? Giờ sức khoẻ như thế nào?”, chúng tôi hỏi. Cô H. cho hay: Cô biết tiếng, kêu ốm đau, đòi tiền lương để về, họ không dám giữ người, đánh đập. Thế nhưng, họ (chủ người Trung Quốc) không trả lương 8 tháng cô đã làm. Ông chủ gọi người môi giới đến, bắt đưa cô đi nơi khác để tránh phiền phức. Vì thế, cô về được nhưng coi như đi lao động khổ sai 8 tháng và mất tiền đặt cọc. “Hiện giờ, tôi mắc thêm cả bệnh thận nữa. Vì thời gian làm việc chui ở Trung Quốc, bị quản lý về giờ giấc, đi tiểu cũng phải theo giờ, đi nhiều, bị chủ phạt”. “Sao cô không đòi tiền người môi giới? Cô biết họ à?”, chúng tôi tò mò. Cô H. phân trần, người giới thiệu cho cô đi làm ở Trung Quốc là người quen. Anh ta nói rằng, anh ta bị chủ Trung Quốc phạt vì cô làm chưa hết hợp đồng nên không có tiền trả, cô không được trả lương vì đòi nghỉ việc trước hạn hợp đồng. Toàn những lý do “cũ rích” và chứa đựng mầm mống của sự lừa đảo. Thế nhưng, cô H. lại tin đó là sự thật.

Chúng tôi hỏi: “Có nhiều người bị lừa như cô không? Giá trung của “cò mồi” nhận từ người lao động là bao nhiêu?”. Cô H. nói: “Mỗi người, người môi giới thu một giá. Thế nhưng, số tiền không thể dưới 6 triệu đồng/người. Ở khu vực xã Vô Tranh và một số xã lân cận, rất nhiều người đi Trung Quốc làm việc chui, sau đó phải trốn về và không được đồng tiền công nào. Đưa tiền cho người môi giới, không có giấy tờ nên chẳng thể đòi. Bọn người này cũng rất xảo quyệt. Chúng trắng trợn nói rằng, tại chúng tôi không làm đúng thời gian hợp đồng nên bị chủ phạt là đúng. Giữa người lao động môi giới, chủ chẳng ký tá gì, lấy đâu ra hợp đồng? Chúng cứ nói thế để biện minh cho việc quỵt tiền, bóc lột sức lao động của người lao động. Mà, có ký hợp đồng, cũng chẳng ai làm được đủ thời gian, vì lao động như khổ sai ấy. Đã thế, điều kiện ăn uống, ở, sinh hoạt lại rất tồi”.

Theo cô H., ngày nắng cũng như mưa, lạnh cũng như nóng, người lao động làm việc từ ít nhất là 11 tiếng đến 14 tiếng/ngày. Họ phải làm việc trong các điều kiện rất khắc nghiệt, không bảo hộ lao động. Khu làm việc cách xa khu dân cư, trung tâm. Nó biệt lập chẳng khác gì nhà tù. Người lao động chỉ làm và làm. Cô H. được bố trí làm ở một khu sản xuất gạch thủ công. Người lao động phải đóng khuôn gạch, làm đất, vào lò, ra lò quần quật cả ngày. Họ chỉ nhìn thấy những chiếc xe ôtô ra vào chở gạch thành phẩm đi. Vì có tí quen biết và nói được tiếng Tàu nên cô H. được bố trí làm việc nhẹ hơn. Đến giờ được đi lấy đồ ăn, nước uống cho công nhân. Chỗ cô H. làm việc có hơn 100 người nhưng chỉ có 3 người quản lý. Họ đứng ở trên chòi quan sát. Những người quản lý này rất vô văn hoá. Họ chửi bới bất kỳ người lao động nào. Thậm chí, đứng trên chòi, họ đi tiểu xuống, nhiều lúc nước tiểu rơi trúng đầu, mặt người lao động mà cũng chẳng dám đi thay đồ.

Chúng tôi hỏi: “Khổ thế, sao không nhờ người quen chuyển chỗ khác làm? Sao không về sớm?”. Cô H. phân trần: “Tôi thỏa thuận với họ làm 6 tháng thì về. Hết 6 tháng, chủ bảo làm tiếp, sẽ trả lương cao hơn. Hơn nữa, đòi tiền để về, lúc nào chủ cũng bảo chưa có, đợi bán hàng đã... Tôi cứ cố để lấy một khoản, bù đắp lại số tiền đã đưa cho người quen môi giới. Không ngờ, mình lại bị lừa. Càng về thời gian sau, tôi càng bị người quản lý “bắt lỗi”. Họ phạt các kiểu để cho rằng, tôi vi phạm và không trả tiền công”.

“Cô có biết, số tiền 7 triệu đồng mà người quen cầm, bảo để xin việc cho cô, chi vào những khoản gì không?”, chúng tôi tò mò. Cô H. nhớ lại: “Đưa cho người quen 7 triệu đồng được hai ngày thì đi. Trên đường đi và tiền xe cộ, ăn ở thời gian đó, người quen chi hết. Đi đường tiểu ngạch sang đến đất Trung Quốc, tôi và người quen còn đi sâu vào nội địa hơn một ngày trời. Thời tiết ở đó rất lạnh, lạnh hơn ở miền núi quê tôi. Chúng tôi dừng lại ở một quán nước ven đường, có người bản địa đến nói chuyện. Lúc sau, tôi thấy hai người đưa, trả, cho nhau NDT nhưng tôi không biết là bao nhiêu. Nghỉ ngơi một ngày một đêm, sau đó, tôi bắt đầu làm việc”.

Khiếp đảm với thủ đoạn quấy rối và lạm dụng tình dục

Vì biết tiếng Tàu, trước đó cũng được đi học hết lớp 12 nên so với những lao động người dân tộc thiểu số khác, cô H. có chút hiểu biết về đời sống xã hội. Hơn nữa, đã từng là vợ, là mẹ nên cô H. có nhiều chiêu trò đối phó với lời nói tục, hành vi khiếm nhã của chủ Trung Quốc. Cô H. kể, lúc mới sang, chủ Trung Quốc tưởng cô không biết tiếng, chúng tha hồ nói với nhau những từ tục tĩu, miệt thị người lao động Việt Nam. Thấy cô nói vài câu tiếng Tàu phản ứng, chúng để ý ngay. Tất nhiên, ngoài việc cô biết tiếng Tàu ra, chúng còn để ý đến cô, bởi cô có dáng người cao ráo, nước da trắng. Người quản lý trực tiếp lao động ở công trường thường hỏi han cô rất tận tình. Ông chủ thi thoảng mới tới công trường nhưng ngoài hỏi công việc từ người quản lý, họ toàn hỏi nữ lao động như thế nào? “Tôi đã từng “được” ông chủ trực tiếp gọi vào phòng – thực chất chỉ là giường trong lều, lán dành cho người quản lý ở - cùng chủ nói chuyện”, cô H. nhớ lại.

“Tôi nghĩ mãi, nếu không đối đáp bằng tiếng Tàu, sẽ bị chúng “giở trò” nên tôi đành lộ thân phận. Tôi nói rằng, đã có chồng, con lớn rồi và đang mắc bệnh; đi làm việc để lấy tiền chữa bệnh. Chúng còn hỏi tôi bị bệnh gì. Tôi nói đại là bị bệnh nan y. Từ đó, ông chủ không ngó ngàng gì tới tôi nữa. Thế nhưng, 3 người phụ nữ khác, cùng làm chỗ tôi, bị chúng “quấy quá trời”. Đang đi làm ở ngoài đồng, khuân đất làm gạch, mặt mũi, tay chân đều lấm, bẩn. Quần áo thẫm mồ hôi như bị mưa ướt sũng, thế mà tên quản lý cũng gọi vào lều để “nói chuyện”. Thực ra, chẳng có chuyện gì để nói cả. Chúng gọi vào để quấy rối tình dục ấy mà. Chúng không dám làm “chuyện ấy” ban ngày thì bóp mông, sờ ti, thậm chí cắn môi, má... họ đến sưng tấy”, cô H. trải lòng.

Hồ Văn Sanh - Khu nhà lụp xụp mà Sanh ở trước khi bị cơ quan công an bắt giữ.

Cô H. bảo rằng, bọn quản lý, ông chủ có chủ đích quấy rối tình dục phụ nữ lao động chui nên bố trí lều ở của họ xa với lều của đàn ông. Chúng rao giảng rằng, để tránh lao động nam “lằng nhằng” với lao động nữ. Nhưng, quả thật, không thể “lằng nhằng” nổi vì làm việc quá mệt, sau đó, ai cũng chỉ muốn nghỉ ngơi mà thôi. “Đêm đến, bọn quản lý mò vào lều của lao động nữ. Chúng như chó đói ăn ấy. Chúng chẳng nói chẳng rằng, lao vào ôm, đè ra ngay. Ai khoẻ chống cự được thì cũng đã bị chúng ôm, hôn, cào cấu… Lao động nữ tên P., ở Lạng Sơn, cũng người dân tộc thiểu số, biết chút ít tiếng Tàu, được quản lý tên Wang Shi để ý. P. được bố trí làm việc ít giờ hơn phụ nữ khác. Cứ nửa đêm, Wang Shi mò đến lán, lôi P. đi khoảng hơn tiếng đồng hồ. Lần nào về, P. cũng tả tơi, rũ rượi. Lúc đầu, P. không nói nhưng sau không thể chịu đựng được sự lạm dụng của quản lý Wang nên nhờ chị em nói giúp là sốt, “bị”. Nhiều lần như thế, Wang nghi ngờ, vào tận lán kéo P. đi bằng được. Lúc đầu, tôi tưởng P. chỉ bị mỗi Wang “làm chuyện ấy” nhưng không phải, P. phải phục vụ tình dục cho cả ba quản lý liền”.

Chúng tôi thấy khủng khiếp với cái gọi là quấy rối, lạm dụng tình dục của ông chủ, người quản lý đối với nữ lao động chui ở Trung Quốc. Gặng hỏi mãi, cô H. mới tiết lộ: “Chỗ tôi làm toàn là lao động người Bắc Giang và Lạng Sơn. Người nào cũng lầm lũi làm việc. Hơn 100 người mà chỉ có 10 người là nữ nên bọn chủ cứ “tỉa” từng người để quấy rối. Chúng có rất nhiều lý do để gọi lao động nữ vào lán “hỏi chuyện”. Có cô vừa bị quản lý, vừa bị ông chủ quấy rối, nghĩ mà tội. Điều đáng kinh tởm nhất là, chúng quấy rối chị em rồi, hôm sau chúng kể với nhau, cười hố hố, khả ố vô cùng”.

Tôi thắc mắc: “Nhiều người thế, sao không bảo nhau chống lại, để cho vài người quản lý lộng hành thế?”. Cô H. chép miệng: “Người Việt mình cứ sợ, chỉ biết thân mình nên không dám đấu tranh. Thấy anh A., chị B. bị chúng đánh, nhổ nước bọt vào mặt một cách vô lý cũng chẳng dám ý kiến gì. Ngoài lý do đó, còn có một lý do cơ bản khác, “nổi loạn” cũng không thể thoát khỏi khu công trường của chúng được mà sẽ bị chúng “thiết quân luật” hơn. Công trường là khu đất rộng nhiều ha nhưng được bố trí từng khu, mỗi khu có tường rào bằng dây thép gai dựng cao lên. Đã thế, bên ngoài tường rào dây thép gai là hào, rãnh sâu. Đường vào và ra chỉ duy nhất một cổng. Khi đóng cổng vào, bên trong là khu biệt lập”.

Theo cô H., bọn quản lý này, không nói thì thôi, hễ mở miệng ra là chúng nói rất tục và vô văn hoá. Chúng toàn gọi lao động theo các ký hiệu mà chúng tự quy định. Ai không nhớ ký hiệu của mình, chúng chửi, tạt tai ngay lập tức. Chúng chưa bao giờ sử dụng đại từ nhân xưng với người lao động mà toàn coi người lao động là tầng lớp dưới, chúng là bề trên. Wang Shi cứ mở miệng ra là đệm từ con chó. Wang còn nói rằng, chúng mày thích ăn thịt chó nên tao gọi là con chó để ăn thịt.

Sinh hoạt cá nhân của bọn Wang Shi rất tuỳ tiện và bệnh hoạn. Thỉnh thoảng ông chủ mới đến kiểm tra nên bọn Wang rất tự do thể hiện những hành vi lỗ mãng, hoang dã của mình. Chúng tiện đâu tiểu tiện ở đấy. Chúng còn lỗ mãng đến mức, vạch “của quý” tiểu tiện ngay trước mặt lao động nữ với mục đích khoe “của quý”. Người nào mải làm việc, không nhìn thấy, chúng còn gọi giật giọng để chị em quay lại, bắt buộc phải nhìn. Thế là chúng cười rất khả ố. Có lần, cô H. vô tình phát hiện ra quản lý Wang Shi và hai quản lý khác đang bày cho nhau cách “làm chuyện ấy” khi quấy rối tình dục lao động nữ chui. Chúng còn vô văn hoá và dâm dục đến mức, người lao động nữ đang cúi xuống làm việc, chúng tiến đến sờ, cấu vào mông, vào ngực, rồi ngẩng mặt lên trời cười… như con tinh tinh.

Bị đánh, bị bỏ đói, lao động khổ sai

Theo giới thiệu của cô H. và nhiều người dân địa phương khác, tôi tìm gặp anh D. và chị Từ Thị Th. Nhà họ cách nhà cô H. hơn 1km nhưng cũng ở trong xã V.T, huyện L.N., tỉnh Bắc Giang. Anh D. làm việc chui ở Trung Quốc hơn 1 năm, còn chị Th. thì cả hai vợ chồng cùng lao động chui ở Quảng Đông (Trung Quốc), được gần 1 năm, tự phải về nước. Câu chuyện làm việc chui của họ chứa đầy nước mắt cùng những tủi hờn do thiếu hiểu biết.

Anh D. và vợ chồng chị Th. là người dân tộc thiểu số Sán Dìu nên giao tiếp rất tốt với người Tàu. Được người môi giới hứa hẹn, họ lên Lạng Sơn và đi đường tiểu ngạch sang Quảng Đông. Tại đây, hai vợ chồng chị Th. bị tách, mỗi người làm việc cho một chủ khác nhau. Chị Th. kể: “Khu làm việc nào của người Trung Quốc cũng kín cổng, cao tường. Vào thì được, ra rất khó, nó biệt lập với bên ngoài một cách hoàn toàn. Vì thế, người lao động chui chỉ biết im lặng, nghe theo chủ làm việc và làm việc, không nghe lời bị đánh rất đau, vẫn phải làm, bị bỏ đói để trừng phạt, làm gương cho người khác”. Chúng tôi hỏi: “Trong cơ sở sản xuất đó, toàn lao động chui người Việt thôi sao, không có người bản địa à?”. Chị Th. cho biết: “Có lao động Trung Quốc. Họ cũng phải làm việc từ 11-14 giờ/ngày như người Việt. Chế độ ăn uống cũng giống nhau nhưng họ được trả một chút tiền lương. Còn lao động chui Việt Nam thì không trả lương. Bọn chủ người Tàu thì nói rằng, có trả lương nhưng trừ vào tiền mua người lao động trước đó. Người lao động Tàu ít bị đánh đập và bỏ đói hơn, vì họ không phản ứng chủ, họ cam chịu”.

Theo chị Th., điều kiện làm việc ở các cơ sở sản xuất nhựa và giày da mà chị từng làm rất bất ổn về an toàn lao động. Bên ngoài được chủ gia cố rất chắc chắn, nhằm khu biệt với bên trong nhưng ở nơi làm việc thì sơ sài tới mức khủng khiếp. Công nhân thuộc da mà không có bảo hộ lao động. Làm gì cũng trực tiếp bằng tay, chân, mắt nhìn luôn. Có người bị dị ứng mùi, mắt sưng húp nhưng vẫn tiếp tục phải làm. Còn chuyện, chân, tay bị phồng rộp, sưng, toé máu cũng thường xuyên xảy ra.

Cũng theo chị Th., làm việc vất vả như thế nhưng ăn uống thì còn kinh hoàng nữa. Người lao động thường xuyên bị đói. “Người Tàu ăn, uống khác người Việt. Đồ ăn của họ cái gì cũng ngọt và ít. Sáng và trưa, họ mang ra hai cái chảo lớn là cơm và canh cùng với thức ăn. Sau đó, người quản lý lấy bát, múc tất cả canh, cơm, thức ăn vào một tô, đưa cho người lao động. Ai ăn được thì ăn, không ăn thì bỏ, chủ không quan tâm. Bát cơm là một mớ hổ lốn như kiểu chậu cám cho lợn ăn ấy, tôi không thể ăn được nên thường xuyên bị đói. Chủ Tàu không quan tâm người lao động ăn được hay không mà càng ăn ít càng tốt. Nhiều hôm, cơm sống, rau cũng sống, không thể nuốt được. Có người cố ăn, vì quá đói, bị tiêu chảy, chủ Tàu lại chửi, mắng, bảo là giả vờ để đỡ phải làm việc. Ăn cũng đói mà không ăn cũng đói”, chị Th. bức xúc.

Anh D. cho hay, chỗ anh làm việc chui, chủ cho ăn chẳng khác gì cho lợn ăn. Họ để tất tật cơm, canh, thức ăn vào chung một cái máng dài bằng tôn, ăn bao nhiêu thì tự múc. Chúng có vẻ là thoải mái nhưng thực chất rất tính toán, chúng biết người lao động Việt không quen ăn kiểu ăn của người Tàu nên càng trêu ngươi. Không ăn được, đói, nhiều hôm hoa mắt, chóng mặt, không làm việc được, chúng chửi rất tục tĩu. Chúng bảo mình không bằng con lợn, chúng nuôi lợn còn kinh tế hơn.

Anh D. cho biết: “Không phải chủ nào cũng có việc làm đều. Những chủ nhận lao động chui thường là chủ nhỏ và ở vùng xa trung tâm, công việc nặng nhọc. Khi không có việc cho công nhân làm, chủ bán hoặc chuyển người lao động cho chủ khác lấy tiền, đỡ phải nuôi lao động lúc nhàn rỗi. Thực tế, chúng cũng có nuôi đâu, khi hết việc, họ toàn bỏ đói người lao động. Họ kiếm tiền trên thân xác người lao động một cách triệt để nhất. Tôi bị bán hai lần. Lần đầu ở cơ sở sản xuất sơn. Ngửi mùi sơn sống, tôi toàn bị nôn. Chủ buộc phải bán tôi đi nơi khác. Tại cơ sở làm nhựa này, mùi cũng độc hại không kém nhưng tôi còn thích nghi được. Làm quen với vài lao động Việt chui, tôi được biết, chú C. (ở Lạng Sơn) bị bán qua tay đến 6 chủ rồi mà chưa thể tìm cách trốn về được. Chú C. đã gần 50 tuổi, bị lừa bán sang lao động chui đã 3 năm. Ở nhà, chú còn mẹ già. Lần đầu tiên, chú phải làm việc ở mỏ khai thác than, cơ cực hơn ở cơ sở sản xuất nhựa này nhiều. Bị sập hầm, chủ lò than, chắc là khai thác thổ phỉ, sợ quá, bán hết lao động người nước ngoài đi”. 

Chúng tôi hỏi anh D., lao động nữ có bị bán từ chủ này sang chủ khác không? Anh D. hất hàm, hỏi chị Th. ấy, nhân chứng sống bị bán qua tay hai chủ đấy. Chị Th. tiếp lời: “Sang đến đất Tàu, vợ chồng tôi bị tách ra. Tôi được người quen môi giới vào làm việc ở một xưởng sản xuất đồ chơi ở Quảng Đông, gần xưởng của chồng làm việc. Sau đó, tôi bị chuyển đi vào sâu trong nội địa, làm ở xưởng sản xuất giày da ở Quảng Tây và một nơi khác nữa là cơ sở sản xuất nhựa ở Hà Nam. Mỗi lần đi khỏi nơi làm cũ, tôi hỏi chủ, tiền công đâu, chúng đều trả lời, đưa hết cho người môi giới rồi. Rồi thì, chúng tao phải mua mày, mày phải làm việc trả nợ. Mày là của chúng tao, không sử dụng nữa thì chúng tao bán. Tôi đòi về, chúng bảo, ra khỏi khu xưởng, chúng không đảm bảo tính mạng cho nên không dám tự ý về. Lúc di chuyển, chúng cho tôi lên xe ôtô tải, có thùng bịt kín, xuống đến nơi, tôi nhìn mãi mới biết đó là Quảng Tây, Hà Nam nhưng không thể nhớ được đường đi như thế nào. Vùng chúng tôi làm việc, phần lớn thưa dân cư và biệt lập nên muốn thoát khỏi cảnh lao động khổ sai, bị đói thì phải khéo léo. Nhiều người cứ chống đối chúng ra mặt, bị chúng đánh đập, bỏ đói, khổ lắm”.

Chúng tôi tò mò, thế người lao động không được ốm à? Chúng tôi thấy anh D. nổi da gà, mặt thất thần. Khoảng 5 phút, anh D. nói: “Chẳng ai được nghỉ ốm, đau gì hết. Có người lao động Trung Quốc sốt cao, vẫn phải làm việc, đến mức bị giật như người bị động kinh, lúc đó, chủ mới bảo mọi người khiêng anh ta về lán nghỉ. Hôm sau, vẫn thấy người này đi làm. Còn một người khác, bị lở ở chân, không được điều trị. Thịt của chân bị hoại tử, thối, tanh đến mức có giòi. Khi tôi báo, chủ còn bảo: “Nó chết thì gọi tao, tao mở cửa kho, đưa cuốc, xẻng cho mà đi đào huyệt chôn”. Kho chứa dụng cụ lao động, đồ dùng của chúng còn kiên cố, sạch sẽ hơn lán của công nhân ở rất nhiều. “Về nhà rồi, đòi được tiền môi giới chưa?”. Anh D., chị Th. và cả cô H. nữa đều cho biết, khi Sanh bị bắt, những tên môi giới ở Vô Tranh cũng biến mất.

Trước thực tế, người lao động, phần lớn là người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Bắc Giang bị lừa sang Trung Quốc làm việc chui, Công an Bắc Giang đã tung trinh sát về các địa phương và phát hiện, bắt giữ đường dây tổ chức đưa người sang Trung Quốc trái phép. Đối tượng cầm đầu tên là Hồ Văn Sanh (SN 1989, trú tại bản Răng, xã Cẩm Đàn, Sơn Động, tỉnh Bắc Giang). Sanh còn trẻ, đã từng có thời gian làm việc ở Trung Quốc nên biết được nhu cầu cần lao động của các ông chủ rất lớn. Sanh đã dụ dỗ nhiều người dân rời khỏi địa phương mà không khai báo tạm trú, tạm vắng nhằm tránh bị cơ quan chức năng phát hiện. Với thủ đoạn này, Sanh đã trực tiếp đưa trót lọt nhiều chục lao động sang Trung Quốc. Có những lao động đã trốn được về, “hỏi tội” Sanh. Ngoài ra, Sanh còn cầm đầu đường dây chuyên môi giới, đưa lao động sang Trung Quốc trái phép. “Chân rết” của Sanh ở các huyện khác như Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên... đều có. Thậm chí, có thời điểm, “chân rết” của Sanh còn được “cắm” tại xã để tiện cho hoạt động phạm pháp. Tại cơ quan điều tra, Sanh khai nhận đã đưa những người dân sang Trung Quốc để lao động, làm việc tại các xưởng sản xuất đồ chơi, nhựa, chặt mía tại các công ty... Những người này được đưa lên Lạng Sơn, sau đó đi đường rừng để qua cửa khẩu Chi Ma. Mỗi người đưa sang Trung Quốc thành công, Sanh sẽ thu 2,5 triệu đồng chi phí ăn ở, đi lại.

Khôi Đăng
.
.
.