Khi người đàn ông khóc

Thứ Ba, 10/08/2010, 11:23
Rời Trại giam Hoàng Tiến, tôi đi tìm cha của một phạm nhân, nguyên là sinh viên năm thứ 3 Viện Đại học mở Hà Nội, phạm tội buôn lậu ma túy bị kết án 7 năm tù. Trong ngôi nhà nhỏ tuềnh toàng ở một cái xóm nhỏ, phố nhỏ, người đàn ông hơn một lần phải khóc vì vợ, vì con ấy luôn cố gắng tỏ ra cứng cỏi trong suốt thời gian ông tiếp xúc với chúng tôi. Nghe câu chuyện gia đình ông mà cái khúc hiện tại của nó thật lắm buồn thương.

Buôn bán ma tuý, cả mẹ và con gái đều bị bắt

Tiếp xúc với chúng tôi ở Trại giam Hoàng Tiến, Trang kể rằng ông bà của cô đều là công nhân nên cả bố và mẹ Trang đều được hưởng sự giáo dục khá chu đáo. Bố Trang, ông N.S.H. là tài xế lái tàu ở Xí nghiệp Đầu máy Hà Nội, phải đi biền biệt hết ngày này sang tháng khác. Mẹ Trang (phạm nhân Đinh Thị Nga bị kết án 7,5 năm tù cũng vì tội buôn bán ma tuý) vốn là công nhân Hợp tác xã bốc xếp Đống Đa.

Thời bao cấp thiếu thốn mọi bề nhưng gia đình luôn hạnh phúc, nhất là khi có thêm em gái của Trang chào đời. Năm 1989, Hợp tác xã bốc xếp Đống Đa giải thể, mẹ Trang không có việc làm, gia đình khốn khó càng khốn khó hơn. Thấu hiểu điều ấy, bố Trang ra sức chạy tàu vượt định mức để có thêm thu nhập. Ba mẹ con ở nhà cũng xoay vần ra đi chợ, bán đủ mọi thứ hàng, từ bán phở rồi bán giải khát, bán rau ngay trên hè phố chỉ mong một ngày lãi được 20.000đ.

Trang nói: "Đi chợ thì có buổi này buổi kia. Từ khi có Nghị định 36 - CP về quản lý trật tự lòng đường vỉa hè thì mẹ con em không còn chỗ mà bán hàng đành liều bán tạm ở vỉa hè. Vì thế, lúc nào cũng trong tình trạng chuẩn bị chạy khi đội trật tự đến. Có ngày lãi không được 10.000đ mà tiền nộp phạt hết mấy chục nghìn đồng".

Tuổi thơ của chị em Trang trôi qua những vất vả nhọc nhằn những buổi chợ lỗ, những lần mẹ đi vay nợ, rồi người ta đến đòi nợ như cơm bữa, nhà cửa lúc nào cũng lanh tanh bành khiến cho tuổi thơ của Trang luôn bị ám ảnh nặng nề về cách hành xử của người lớn và đồng tiền đã làm cho người ta mất đi tất cả. Tiền, tiền... nó cứ hằn lên trong tuổi thơ của chị em Trang cho đến tận khi cô vào Đại học và em Trang lên lớp 7. Số tiền nộp học phí rất lớn nhưng đấy là năm cả hai chị em Trang lại được chứng kiến những bi kịch trong gia đình, mặc dù cô biết rất rõ những đồng tiền mà mẹ đưa cho nộp học phí có được đều do mẹ buôn ma tuý.

Cán bộ quản giáo đang hướng dẫn phạm nhân lao động.

Rồi cái gì đến sẽ phải đến. Cô thật không ngờ những việc làm tội lỗi của mẹ là sự khởi đầu một thảm kịch trong gia đình cô. Đó là những ngày cuối năm 1999, đầu năm 2000, ma tuý ở phường Bạch Mai, đặc biệt là dãy M12 - khu tập thể Mai Hương trở thành một những điểm nóng về tệ nạn ma tuý của Hà Nội. Sát nhà Trang có nhiều gia đình buôn ma tuý thuộc diện "đại lý" như Trịnh Thị Yên, Trịnh Thị Thanh, Trần Văn Chẽ và nhóm Thuận "dê"...

Mẹ Trang nhận thấy việc buôn bán ma tuý dễ dàng mà lại có lãi cao nên đã bỏ hẳn việc buôn bán rau ngoài chợ về bán ma tuý thuê cho Trịnh Thị Thanh tại nhà. Ban đầu chỉ bán vài tép một ngày nhưng khi nhìn sang nhà hàng xóm thấy họ có cái tivi to, cái xe máy đẹp... mẹ Trang quyết chí bằng mọi cách buôn bán với số lượng lớn hơn để nhanh chóng làm giàu.

Giấu chồng, tránh sự theo dõi của Công an, bà ta huy động cả con gái vào cuộc. Trang tham gia chia thuốc và bán lẻ cùng với mẹ. Vào các buổi sáng, Trang giấu hêrôin trong cặp sách, trên đường đi học sẽ bán cho các con nghiện dọc phố. Mỗi ngày hai mẹ con bán khoảng 10 tép, lãi từ 120.000 - 200.000đ.

Về những việc làm sai trái đã qua, Trang  cho biết thêm: "Quả thực lúc ấy em nghĩ, cả nhà em đã phải rất vất vả, bươn chải mà vẫn nghèo, nay lại thấy mẹ em phải lén lút buôn ma tuý để có tiền, em... thương mẹ em quá nên em nhận cùng làm với mẹ. Dù có nhận thức được chút ít việc mình làm là sai nhưng sự cám dỗ của đồng tiền lớn quá, em đã loá mắt lao vào nó bất chấp lời khuyên răn của bố, sự giáo dục của chính quyền địa phương. Giờ đây ngồi trong trại cải tạo, em thấy ân hận về việc làm của mình. Nó đã đánh mất tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc của em. Không còn con đường nào khác, em đã hứa với các cán bộ quản giáo và chính mình rằng sẽ cải tạo thật tốt để sớm trở lại với cộng đồng".

Với mức án bảy năm tù, cái giá phải trả có đắt hay không thật khó trả lời, chỉ biết rằng, nếu không phải đi tù thì giờ đây Trang đã tốt nghiệp đại học, là cử nhân tin học và có thể Trang đã có việc làm, có thu nhập để giúp đỡ gia đình. Hàng tháng, nhìn hình ảnh bố tất bật lên thăm nuôi mình, nhìn thấy những giọt nước mắt khổ đau của cha, Trang lại càng ân hận và "khao khát được làm lại, khao khát được về nhà để sà vào lòng bố mà xin tha thứ cho những lỗi lầm đã qua".

Khi người đàn ông khóc

"... Con gái thương yêu của bố! Đời bố phải rơi nước mắt hai lần, một lần vì cha và lần này là vì con. Bố không bao giờ nghĩ rằng nhà ta lại có lúc cửa nát nhà tan như bây giờ con gái ạ. Tuổi thơ của bố vất vả và không được học nhiều nên bố luôn tự nhủ phải làm để các con được học hành và bố đã rất cố gắng. Cả đời bố đi làm vất vả nhưng chưa để ai phải phàn nàn về mình. Vì vậy mà trong cuộc sống, dù có nằm mơ bố cũng không bao giờ nghĩ con phải chịu hình phạt như thế này...".

Một buổi chiều ở nhà một mình, thương và nhớ con, ông H., cha của Trang , đã viết cho Trang bức thư chứa đầy tình thương yêu và nỗi đau như thế. Hai năm đã trôi qua và có lẽ sẽ không bao giờ ông H. quên được cái buổi chiều 19/10/2002 ấy, ông về nhà sau một chuyến chạy tàu đường dài thấy cửa nhà tan hoang, con gái thứ hai đang khóc, vợ và con gái lớn đã bị bắt. Ông bị sốc và suy sụp, mặc dù từ ngày vợ ông buôn ma tuý ông vẫn biết chuyện này không chóng thì chầy sẽ xảy ra.

So với tuổi, người đàn ông 43 tuổi đang ngồi trước mặt tôi già và sạm đen vì vất vả, cái dáng ngồi còng xuống vì phải gánh chịu nhiều nỗi khổ tâm, giọng nói và ánh mắt trĩu nặng cả một câu chuyện buồn dồn nén. Lộn xộn, rời rạc, bao giờ cũng bắt đầu bằng từ "khổ" hay "chán", khó khăn lắm ông H. mới kể được cho tôi nghe những gì mà gia đình ông phải trả giá. Là tài xế lái tàu, một tháng ông đi triền miên khoảng 20 chuyến nên không có điều kiện để lo việc nhà. Vợ và con gái bập vào buôn ma tuý một thời gian dài ông mới biết.

Ông nhẹ nhàng khuyên nhủ vợ, từ khuyên đến răn đe rồi vợ chồng cãi vã, không khí gia đình lúc nào cũng ngột ngạt, bao nhiêu con nghiện đến mua ông đều đuổi hết. Nhưng ông cũng chỉ giữ được khi ông ở nhà. Ông đi làm vắng, vợ con ông lại chia và bán thuốc.

Ông phải tranh thủ những ngày nghỉ hiếm hoi đưa Trang đến những nơi mà ngày xưa ông đã làm lụng vất vả để kiếm sống, kể cho con nghe và nói về giá trị chân chính của đồng tiền. Trang cũng chỉ vâng dạ cho qua chuyện rồi lại lao vào bán heroin với mẹ.

Không nói được vợ, không dạy được con, nhiều lần ông H. định ly dị nhưng là người thương con nên ông đành lòng ở lại, nhất là khi các con ông ra sức ủng hộ, bênh vực mẹ. Giờ đây, khi nghĩ lại, ông H. luôn day dứt, dằn vặt mình vì ông đã để cho đứa con mà ông bao giờ cũng yêu thương, dành dụm nhiều nhất phải rơi vào vòng tù tội.

Ông H. nói: "Tôi chỉ biết đi kiếm tiền mà không biết các con tôi nó còn cần có sự hiện diện của tôi ở nhà để cho chúng nó có chỗ dựa, giúp chúng nó vượt qua những cạm bẫy, cám dỗ của cuộc đời. Cái lỗi lớn nữa là tôi không kiên quyết".

Nếu bạn ở trong tình cảnh một người đàn ông quanh năm phải đi làm vất vả mà vợ bạn đi chợ buôn gì cũng lỗ, bạn như một người sinh ra để cả cuộc đời đi trả nợ thay cho vợ, vợ bạn đi tù để lại cho bạn một món nợ 20 triệu, và hơn hết, chính vợ bạn là người đã phá hỏng tương lai của những đứa con mà bạn rất mực yêu thương thì bạn sẽ thấu hiểu người đàn ông ấy đau đớn như thế nào.

Sau nửa tháng mới được gặp lại Trang tại Trại giam Hoả Lò, ông H. như đứt từng khúc ruột, lần đầu tiên nước mắt ông trào ra trước mặt con, một ngọn lửa của lòng hận thù đối với người mẹ của các con ông bùng lên: "Tôi thù cô đến lúc cuối đời, cô đã làm hại con tôi".

Từ khi vợ con bị bắt, ông H. gầy và già đi nhiều, ông phải làm việc cật lực để có tiền nuôi hai bố con, có tiền tiếp tế cho hai mẹ con Trang và nuôi hai đứa cháu vợ do bố mẹ nó cũng đang ở tù vì buôn bán ma tuý. Nhiều lúc ông H. thấy mình buồn cười lắm, sao mình tỉ mỉ như đàn bà, lo cho con từ cái dây buộc tóc, hì hụi giã ruốc để mang lên cho con... Những lần đi thăm Trang, ngồi trên chiếc xe đưa mình lên trại, lòng ông như muốn nổ tung, ông chỉ muốn mình được khóc thật to cho vơi đi nỗi khổ đau dồn nén.

Nhưng ông lại phải kìm chế vì ông hiểu, giờ đây ông chính là chỗ dựa duy nhất cho đứa con tội lỗi của ông. Cứ thế, ông cố ngăn không cho những giọt nước mắt chảy ra, cố gắng nuốt nó vào trong lòng, cố gắng động viên con dù ông rất cần có người động viên mình. Chiều muộn, bên nhà hàng xóm, tiếng trẻ con ríu rít nô đùa, nhà ai cũng chuẩn bị quây quần bên mâm cơm. Ông H. vẫn cứ một mình lụi cụi đi chợ, nấu cơm.

Ông lặng lẽ làm, lặng lẽ chịu đựng suốt bấy lâu và ông còn phải lụi cụi chờ thêm 5 năm nữa vợ con ông mới mãn hạn tù. Con gái thứ hai của ông đi học về, trên khuôn mặt ngây thơ của nó đượm buồn, có lẽ nó cũng đã khóc nhiều vì mẹ và chị nó. Lòng chúng tôi nặng trĩu, chỉ ước sao gia đình ông H. sẽ đoàn tụ, cha con ông sẽ không còn phải khóc

Quang Minh
.
.
.