Kẻ chối bỏ tình yêu trong tuyệt vọng

Thứ Tư, 25/08/2010, 16:34
Câu chuyện về cuộc đời và tình yêu của chị như một bài tình ca buồn lặng. Nguyễn Thị Hạnh không nghiện nặng đến mức phải chết đi sống lại vì ma túy như những trường hợp khác, nhưng "tình duyên" giữa chị với thứ khói trắng ấy cứ dai dẳng không dứt bởi những cú sốc về tinh thần cứ liên tục cứa vào tâm can cô những vết đau vết xót.

Gần 9 năm chung thủy với một người đàn ông, thế nhưng cuộc đời trớ trêu bởi cho đến bây giờ, ở tuổi gần 40, chị vẫn một thân một mình và luôn cay đắng tự hỏi sao số kiếp mình lại trầm luân đến thế.

Nguyễn Thị Hạnh không xinh đẹp nổi trội, nhưng chị có duyên bởi đôi mắt biết nói và nụ cười tươi tắn. Và khi yêu, chị tự nhận mình là người rất chung thủy. Ở tuổi gần 40, chị đã trải qua hai mối tình, và mỗi mối duyên ấy, cũng đã kéo dài ngót nghét hơn 7 năm trời.

Mối tình đầu tiên với một người bạn trai bằng tuổi bắt đầu khi chị là cô bé 16 tuổi xinh xắn và dễ thương. 7 năm ròng rã yêu nhau, những tưởng tình yêu sẽ đơm hoa kết trái thế nhưng chỉ đúng một lần cãi vã vì ghen tuông lại thêm tuổi trẻ vội vàng, ích kỷ, chị đã đánh mất thứ tình cảm sâu nặng nhất của mình.

Giống như bao nhiêu trường hợp mắc nghiện khác, chị tìm đến ma túy để giải sầu theo lời rủ rê khích bác của bạn bè. Ma túy đối với Hạnh ở thời điểm đó, như một liều thuốc tinh thần xoa dịu nỗi buồn đau trong lòng chị. Dù chỉ dùng vài lần là thôi và chưa đến mức nghiện, thế nhưng bước dạo đầu đó là nguồn cơn để sau đó 1 năm, khi bước vào mối tình thứ 2, chị nhanh chóng gần gũi với nàng tiên nâu như một điều tất yếu.

Người yêu thứ hai của chị có trình độ đại học, nhà anh ở Ngã Tư Sở và có một cửa hàng làm đá Ganito trên đường Giải Phóng, gia đình anh cơ bản, bố mẹ đều là công nhân viên chức Nhà nước.

Ở tuổi 25, Hạnh vẫn duyên dáng, chị làm ở quán cơm của gia đình ở Cầu Giấy. Hai người yêu nhau một cách tình cờ và rất tự nhiên trong những lần đi chơi bạn bè. Hạnh tưởng mình đã tìm được bến đỗ bình yên và hi vọng về một cuộc sống tương lai hạnh phúc đủ đầy. Nhưng cuộc đời chẳng ai biết được chữ "ngờ", bởi sau khi yêu nhau 5 tháng, chị phát hiện ra người yêu của mình mắc nghiện.

Khuyên bảo mãi không được, chị buồn chán và vốn dĩ trước đây cũng dính vào ma túy nên cuối cùng, chị dễ dàng thỏa hiệp với anh, cùng người yêu hít ma túy. "Mỗi lần đến nhà chơi, thấy anh ấy nằm trên giường phê thuốc, mình không ngăn cản được, chẳng lẽ lại chỉ ngồi nhìn, người mình lúc đó cũng ngứa ngáy lắm, nên lại hút theo anh".

Kể từ đó, thuốc phiện là gia vị không thể thiếu trong tình yêu của Hạnh. Số tiền hai người kiếm được theo lẽ thường nên để dành dụm để xây dựng cuộc sống gia đình sau này, thế nhưng họ lại đốt hết theo khói thuốc. Khi tiền kiếm ra không đủ, người yêu chị chuyển sang buôn bán và vận chuyển ma túy để duy trì khoái lạc cho bản thân và cả người yêu.

Bản thân Hạnh, mặc dù rất nhiều lần chị muốn khuyên người yêu để cả hai cùng từ bỏ ma túy, sống một cuộc sống lao động chân chính, nhưng nhìn người yêu van xin quỳ lạy mỗi khi anh lên cơn vật thuốc, lòng chị lại nguôi ngoai. Hạnh giải thích đó là vì thương anh, vì tình yêu, thế nhưng chị không biết rằng cái cách thương và yêu như thế sẽ càng làm anh và chị lún sâu vào con đường tội lỗi. Cũng có thể hiểu được việc làm quá ngốc nghếch của Hạnh vì chính chị cũng là người đã từng dính đến ma túy. Một người đã từng hít heroin khó có thể khuyên người khác đừng tiếp tục dùng cái thứ chết người ấy nữa, nhưng lại dễ dàng bị sa ngã, huống chi, kẻ đồng hành tội lỗi cùng chị lại chính là người chị thương yêu. Cứ thế, chị và anh, vừa yêu nhau, lại vừa yêu cả … ma túy.

Và rồi, không thể trốn thoát khỏi sự nghiêm minh của pháp luật, năm 1997, người yêu Hạnh bị bắt giam 7 năm tù vì tội buôn bán, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy. Thấm thía những hậu quả của cái thứ mà chị đã từng coi là liều thuốc tinh thần tốt nhất cho nỗi đau của mình, lần này Hạnh quyết tâm dứt khỏi sự quyến rũ của thuốc phiện. Nửa năm tự cai ở nhà cũng với sự giúp đỡ của gia đình, Hạnh thoát khỏi vòng quay của những cơn đê mê khói thuốc rồi vật vã thèm thuồng. Chị học nghề và làm nhân viên gội đầu tại một cửa hàng của người quen.

Thời gian ấy, chị cũng thường xuyên viết thư và lên thăm người yêu ở Trại giam Tân Lập (Phú Thọ). Chị động viên anh hãy quyết tâm cai nghiện, cải tạo tốt và hãy nghĩ về một tương lai sáng. Anh hơn chị 7 tuổi, Hạnh năm đó cũng ở tuổi 26, đôi uyên ương sau những ngày lầm lỗi đã đủ chín chắn để suy nghĩ lại về việc xây dựng một cuộc sống đàng hoàng, tử tế khi anh ra tù. 7 năm ròng rã, nhiều lần anh viết thư về giục chị đi lấy chồng để yên phận vì tuổi chị cũng không còn trẻ nữa, thời gian ấy, cũng có nhiều người đến ngỏ lời yêu đương với Hạnh, nhưng chị vẫn một mực chờ anh. Hạnh nói, ở cái tuổi ấy rồi, chị không còn hứng thú tìm hiểu một người mới nữa, hơn nữa tình cảm của chị cũng đã gửi hết cho anh và chị nguyện chờ anh về.

Thấy tôi nhìn ngón tay đeo nhẫn có săm hai chữ cái H và Đ, chị ngượng nghịu giải thích đó là chữ cái đầu trong tên chị và người yêu. Ngay sau khi anh vào tù, chị đã săm lên ngón tay hai chữ đó, như là biểu tượng của chiếc nhẫn cưới mà anh chưa kịp trao. Chị còn thường xuyên qua nhà anh chơi, gần như thay anh chăm nom bố mẹ anh. Hạnh tự coi mình đã đính ước cùng người yêu rồi nên với bố mẹ anh, chị có bổn phận như một người con dâu.

Năm 2004, khi người yêu sắp được mãn hạn ra tù, Hạnh vui mừng khôn tả. Những ngày tháng chị mong chờ bây giờ đã tới. Chỉ cần anh về với chị, hai người sẽ quyết tâm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Thế nhưng hạnh phúc với Hạnh dường như quá mong manh, cứ khi chị gần chạm đến thì hạnh phúc lại vụt mất bởi ngày người yêu ra tù cũng là ngày chị bước chân vào Trung tâm Giáo dục lao động số 2 Ba Vì để cai nghiện.

Tại sao một người đã tránh xa ma túy được ngần ấy năm, lại đang trong giây phút mong chờ một cuộc sống lứa đôi lại nhanh chóng nghiện lại như thế? Tôi không biết gọi đó là nguyên nhân hay chỉ là cái cớ biện minh cho sự thiếu bản lĩnh của một cô gái đã ở tuổi 30.

Hạnh nói, chị tái nghiện vì quá đau buồn sau cái chết của em trai. Con người sinh tử đều là quy luật tất yếu của tự nhiên. Thế nhưng em trai chị qua đời khi tuổi còn rất trẻ. Nhà có 3 chị em, bố mất sớm nhưng Hạnh chỉ hợp với em trai, với mẹ, chỉ nói chuyện với nhau dăm câu đã hục hặc, còn với chị gái của chị thì gần như hễ tranh luận chuyện gì là chị phải bỏ đi vì bất đồng quan điểm.

Khi biết chị bị nghiện, đứa em trai thương chị chỉ biết nhìn chị khóc và van xin chị đi cai nghiện, còn mẹ và chị của chị thì chỉ biết chì chiết mắng mỏ. Hạnh thương em trai như thương chính bản thân mình, bởi ngay từ lúc 5 tuổi, em chị đã bị lưu lạc và sống một cuộc sống cơ cực. Lên tuổi 12, khi tìm về được với gia đình thì ít lâu sau em trai chị lại phải vào miền Nam làm ăn theo số tử vi mà mẹ chị đã xem thì chỉ có đi xa, em chị mới hi vọng có được cuộc sống ổn định. Thương đứa em trai từ bé đã phải sống thiếu thốn thiệt thòi, nay lại biết em chết thảm trong một tai nạn khi đang lao động, Hạnh gần như không đứng vững nổi. Người cô như chết điếng đi khi mất đi một phần máu mủ ruột thịt. Không chống đỡ được với nỗi đau lòng đó, chị tìm đến thuốc phiện.

Sau 2 năm cai nghiện, chị trở về với cuộc sống đời thường. Xấu hổ với người yêu bởi anh khi ấy đã thực sự hoàn lương, chị lại buồn nản và sống vật vờ như một bóng ma. Không thực vật vã thèm thuốc, nhưng thỉnh thoảng Hạnh vẫn tìm đến với thuốc phiện như một người bạn tâm giao. Điều đó giải thích tại sao năm 2009, Hạnh tiếp tục quay trở lại Trung tâm Giáo dục lao động số 2 Ba Vì như một điều tất yếu. Chị thanh minh: "Lần thứ 2 em thực sự không nghiện. Chỉ có một vài lần em hút cho đỡ buồn thôi. Ai ngờ bị Công an phường phát hiện".

Nhìn gương mặt người phụ nữ đã ở cái tuổi lẽ ra nên có một gia đình yên ấm bị thuốc phiện ăn mòn tuổi xuân, tôi xót xa thay cho chị. Cuộc đời người phụ nữ dưới chế độ phong kiến với những lễ giáo khắc nghiệt như những hạt mưa sa, cuộc sống của họ sung sướng hạnh phúc hay bất hạnh, hạt mưa được vào "đài các" hay bị sa "luống cày" đều phụ thuộc vào người đàn ông trong cuộc đời họ. Thế nhưng, những người phụ nữ của thế kỉ XXI văn minh và tân tiến có thể tự quyết định cuộc đời của mình, thế nhưng họ yếu đuối, thiếu bản lĩnh và trở nên bất hạnh thì có thể trách được ai đây?

Giờ đây, Hạnh không dám mong ước có thể cùng người yêu xây dựng tổ ấm sau khi ra khỏi nơi này nữa, mặc dù hiện tại, anh vẫn liên tục gọi điện cho chị rằng mong ngày chị trở về. Người ta yêu nhau, chờ đợi nhau dẫu khoảng cách về thời gian hay không gian lớn đến mức nào để mong chờ hạnh phúc. Và đối với Hạnh với cả người yêu chị, sự chờ đợi ấy thật đáng sợ. Họ không phải chỉ chờ nhau mà chính là chờ sự tàn ác của thuốc phiện theo thời gian có thể phai mờ trong tâm can từng người.

Tôi mong rằng, đây là lần cuối cùng của sự chờ đợi trong mối tình nghiệt ngã vì khói thuốc của đôi uyên ương bởi họ đã đi gần hết một nửa đời người mà vẫn chơi vơi, chưa tìm được  bến đỗ bình an

Hà Giang
.
.
.