Đêm sinh nhật định mệnh
Bây giờ thì Nguyễn Thị Doàn đã có chồng, có con và sau gần 10 năm xảy ra vụ án, cô và những người bạn khác vẫn không tin 3 người bạn của mình phạm tội xấu xa đó. Thật khó hiểu là toàn bộ lời khai của các nhân chứng về việc sử dụng thời gian của các bị can tối 24/10/2000 không được cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây cũ đưa vào trong hồ sơ vụ án, không có trong hồ sơ lưu.
Thời điểm xảy ra vụ án, các bị can ở cách hiện trường... 3km
Chỉ riêng việc xác minh, vào tối 24/10/2000, Lợi, Kiên, Tình đã làm gì, ở đâu, các điều tra viên Văn phòng CSĐT đã phải gặp ít nhất 10 nhân chứng. Những nhân chứng đầu tiên mà các điều tra viên tìm gặp là chị Nguyễn Thị Uyên và bố chị (ông Nguyễn Duy Dũng), chị Tạ Thị Tâm (dì chị Uyên), chị Nguyễn Thị Oanh (chị gái Uyên), ở thôn Do Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức.
Chị Uyên cho biết: Khoảng chập tối ngày 24/10/2000, Lợi, Kiên, Tình có đến nhà chị Uyên chơi, họ ngồi xem phim đến gần hết tập 1 phim Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài thì về. Chị Uyên cũng cho biết, nghe thấy Lợi nói là về đi sinh nhật chị Doàn ở thôn Nghĩa Lộ. Vì chị Uyên ít tuổi hơn và cũng không chơi với chị Doàn nên không đi cùng.
Ông Nguyễn Duy Dũng thì khẳng định: Tối hôm đó, 3 anh Lợi, Kiên, Tình có đến nhà ông chơi với con gái ông, trời mưa lâm thâm nên các thanh niên này ngồi lại xem phim Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài.
Chị Nguyễn Thị Doàn thì vẫn nhớ như in buổi sinh nhật mình: Khoảng hơn 22h đêm, 3 anh Lợi, Kiên, Tình mới đến nhà chị Doàn, Lợi còn tặng chị Doàn một bó hoa. Các anh chị: Nguyễn Thị Tâm, Đặng Thị Thúy, Nguyễn Thị Xuyến, anh Nguyễn Doãn Quang, Bùi Viết Vịnh, đều trú tại xã Yên Nghĩa, khai rằng, khi họ từ đám sinh nhật chị Doàn về, ra đến cổng nhà ông Hoè (cạnh nhà chị Doàn) thì gặp Lợi, Kiên, Tình đi đến.
![]() |
Các nhân chứng sở dĩ đều nhớ rất rõ các tình tiết trên vì sau khi 3 anh này bị bắt, các anh Công an xã có dẫn cán bộ Công an tỉnh đến ghi lời khai của họ nhiều lần về việc Lợi, Kiên, Tình có đến nhà họ chơi không, đến vào lúc mấy giờ, mấy giờ thì về, các nhân chứng đến sinh nhật chị Doàn, có gặp Lợi, Kiên, Tình ở đó không... và họ đã khai đầy đủ với các cán bộ Công an.
Một nhân chứng quan trọng khác là anh Nguyễn Đình Cộng (hiện là phó bí thư chi bộ thôn Do Lộ) cho biết, tại thời điểm xảy ra vụ án, anh là Công an viên có chứng kiến việc một đồng chí Công an tỉnh hỏi các nhân chứng trên về việc các anh Tình, Kiên, Lợi đi đâu tối 24/10/2000.
Các nhân chứng này cho biết ngày 24/10/2000 là ngày sinh nhật chị Doàn, bạn thân của họ. Tối hôm đó họ có gặp 3 anh Lợi, Kiên, Tình đến nhà chị Doàn sinh nhật nhưng ở phiên tòa sơ thẩm, anh Cộng không thấy cơ quan pháp luật đưa chứng cứ đó ra xem xét, ngày 25/2/2002, anh Cộng đã làm đơn gửi tòa phúc thẩm. Hồ sơ tại tòa án cho thấy có đơn của anh Cộng về việc này.
Có thể thấy rằng, cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây cũ cũng làm cẩn thận từng bước xác minh về việc sử dụng thời gian của 3 bị can vào tối xảy ra vụ án, nhưng không hiểu sao toàn bộ lời khai của các nhân chứng có lợi cho các bị can lại không được đưa vào trong hồ sơ vụ án, không có cả trong hồ sơ lưu.
Đến đây thì có thể thấy rõ sự tắc trách hoặc cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án của một số cán bộ thuộc cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây cũ. Các điều tra viên Văn phòng CSĐT đã đưa ra kết luận: Căn cứ vào lời khai của các nhân chứng, vào thời điểm xảy ra vụ án, ba can phạm đang có mặt ở nhà chị Uyên ở thôn Do Lộ, sau đó đi sinh nhật chị Doàn và cách hiện trường xảy ra vụ án tới... 3km.
Lá đơn tự thú có nhiều nghi vấn
Nguyễn Đình Kiên khi bị bắt đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, anh kể lại với các điều tra viên Văn phòng CSĐT: Ngày 16/12/2000, anh Hải - chính trị viên đại đội gọi Kiên lên trả quân trang và đưa Kiên về thẳng UBND xã Yên Nghĩa, có 2 xe của các anh Công an đi cùng. Về đến UBND xã Yên Nghĩa, Kiên thấy một cán bộ đưa ra lệnh bắt khẩn cấp và bảo, "mày nhận đi, thằng Tình, thằng Lợi nhận hết rồi".
Lý do Kiên viết bản tự thú tại UBND xã Yên Nghĩa vì Kiên rất sợ bố, bố Kiên - ông Nguyễn Đình Thìn vốn là bộ đội xuất ngũ, thời điểm đó ông làm chi ủy viên của xã, phụ trách an ninh thôn. Ông nói với con trai "cứ nhận đi rồi tính". Điều đặc biệt hơn là Kiên ngồi viết tự thú theo những gì các anh Công an hướng dẫn. Bởi thế, khi đọc "lá đơn tự thú" của Kiên, chúng tôi thấy xót xa cho chàng trai này, bởi anh có biết gì về nội dung vụ án đâu mà biết phải viết tự thú thế nào cho đúng.--PageBreak--
Còn ông Nguyễn Đình Thìn thì đến bây giờ vẫn ân hận và thương con trai vì ông đã tin người ngoài hơn con trai mình. Ông kể lại: Thời gian điều tra vụ án, các anh Công an rà soát đối tượng đều ăn, ở tại nhà ông. Khoảng hơn 1 tháng sau, ông thấy một anh Công an huyện bảo: "Các anh Công an tỉnh trao đổi, khả năng thằng con nhà anh có dính vào vụ án nhưng chỉ theo đóm ăn tàn thôi".
Ngày 14/12/2000, anh Hải ở đơn vị của con trai ông (C11 Lữ đoàn 144 Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng) về nhà ông và nói với ông rằng: "Các anh Công an tỉnh trao đổi với đơn vị, em Kiên có tham gia vào vụ án ở địa phương, những người bị bắt đã khai hết rồi, Công an có cho đơn vị xem hồ sơ, vì thế anh xin cho em Kiên xuất ngũ trước thời hạn để khỏi thiệt thòi".
Sáng 16/12/2000, anh Hải cùng một anh nữa trong đơn vị đã đưa Kiên về xã. Lúc đầu Kiên không nhận, khi đó ông Thìn đang họp chi bộ, được các anh Công an gọi sang đề nghị ông động viên Kiên khai nhận. Kiên rất sợ bố nên viết bản tự thú theo hướng dẫn của các anh Công an, ông Thìn ký vào bản tự thú của con nhưng không biết hành vi phạm tội của con trai ông như thế nào.
Cần phải nhắc lại rằng, trong bản tự thú, Kiên không hề nhắc đến hành vi hiếp dâm và kể lại vụ việc cũng hết sức sơ sài, đó là điều rất lạ ở một lá đơn tự thú. Bởi nếu đã ra tự thú nghĩa là đối tượng sẽ thành khẩn khai báo tất cả tội lỗi, đằng này, bản tự thú không thể hiện được các hành vi phạm tội mà đối tượng gây ra, bởi đơn giản, anh ta có phải là thủ phạm đâu.
Sau khi Kiên bị bắt, ông Thìn đã tìm hiểu và được biết, tối 24/10/2000, Kiên đi chơi với thanh niên trong làng và dự sinh nhật chị Doàn, ông Thìn đối chiếu về thời gian thấy khi xảy ra vụ án, Kiên đang ở trong làng, cách hiện trường tới 3km, không thể gây án được. Vì vậy ông mới viết đơn kêu oan cho con, nhưng hành trình đi tìm công lý của gia đình ông và gia đình Lợi, Tình sẽ không có kết quả nếu không có sự vào cuộc ráo riết và khách quan của các điều tra viên Văn phòng CSĐT Công an TP Hà Nội.
Các cơ quan tiến hành tố tụng vi phạm... Luật tố tụng
Khi bắt, khám xét, cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây cũ có thu giữ của Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Đình Tình một số đồ vật gồm: ví, rất nhiều quần áo, dây chuyền bạc, giày da. Tuy nhiên, trong kết luận điều tra không thấy đề cập đến việc thu giữ này, nhưng lại chuyển những đồ vật này sang Tòa án.
Trong bản án sơ thẩm, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây xác định: Cơ quan điều tra đã thu giữ một số đồ vật là tang vật của vụ án, xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy. Theo đúng luật thì những đồ vật này không phải là vật chứng của vụ án cần phải được trao trả cho chủ sở hữu. Việc các cơ quan tiến hành tố tụng Hà Tây xác định đồ vật này là tang vật vụ án, Tòa án tuyên hủy là vi phạm Điều 74, 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án có một bức thư bị can Lợi viết cho bố mẹ đề ngày 22/6/2001 với nội dung: "Bố mẹ lo chạy tiền trả cho bị hại để con được nhẹ tội, đến gặp kiểm sát viên để biết thêm tình hình của con...". Tòa phúc thẩm đã căn cứ vào bức thư này để đánh giá thái độ khai báo của bị can Lợi: không nhận tội, tại sao lại viết thư cho bố mẹ dặn lo tiền bồi thường cho bị hại.
Thời gian này hồ sơ đang ở Viện kiểm sát, trong hồ sơ không có biên bản thu giữ bức thư trên. Vì vậy, các điều tra viên Văn phòng CSĐT cho rằng, việc xác định đây là chứng cứ buộc tội đối với bị can Lợi là không đúng, vì bức thư này không được thu thập theo đúng trình tự quy định của pháp luật, nên không có giá trị chứng minh.
Sau khi bắt ba anh Lợi, Kiên, Tình, mặc dù tang vật không thu hồi được nhưng cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây cũ không tiến hành mọi biện pháp điều tra để củng cố chứng cứ, xác định người có hành vi phạm tội như: Cho bị hại nhận dạng đối tượng trực tiếp; không làm rõ các mâu thuẫn trong lời khai của từng bị can và của các bị can để làm rõ bản chất của vụ án.
Tóm lại, ở vụ kỳ án này, cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây cũ chỉ kết luận hành vi phạm tội dựa trên lời khai của các bị can, trong khi hung khí gây án, tang vật vụ án không thu giữ được, không có tài liệu chứng cứ vật chất và nhân chứng trực tiếp nào làm cơ sở chắc chắn cho việc xác định đối tượng gây án mà vẫn kết luận ba bị can Lợi, Kiên, Tình phạm tội cướp tài sản, hiếp dâm.
Việc kết luận này là không có căn cứ pháp luật. Tuy rằng, tại cơ quan Công an, lúc đầu các bị can khai nhận tội nhưng những lời khai nhận của các bị can lại không cụ thể, rõ ràng, có quá nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn trong chính lời khai của mình, mâu thuẫn với lời khai của bị hại, mâu thuẫn với hiện trường, mâu thuẫn giữa lời khai của các bị can với nhau... Lời khai nhận tội của các bị can không phản ánh đúng hiện thực khách quan về diễn biến hành vi phạm tội của từng bị can.
Dư luận đặt câu hỏi, những cán bộ điều tra Công an tỉnh Hà Tây cũ đã tham gia khám phá vụ án này liệu sẽ phải hình thức kỷ luật như thế nào, chúng tôi sẽ có bải viết trong một số báo khác

