Cuộc điều tra quy mô nhất về nhược điểm của trẻ thụ tinh trong ống nghiệm

Thứ Bảy, 17/07/2010, 09:48
Hơn 100.000 trường hợp trẻ em sinh ra qua con đường thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) đang đối mặt với những rủi ro về căn bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường khi về già. Khoảng 4,3 triệu trẻ em đã chào đời thông qua công nghệ thụ tinh IVF kể từ năm 1978, nhưng rất ít người biết rằng những trẻ em đó có nguy cơ đối mặt với những rủi ro về sức khoẻ trong những năm kế tiếp.

Các nhà nghiên cứu lo âu về một loạt các trục trặc mà trẻ em mắc phải từ những khiếm khuyết lúc mới chào đời từ căn bệnh tâm thần cho đến chứng bệnh bại não. Thêm vào đó, những công nghệ mới như công nghệ làm đông trứng càng làm gia tăng các rủi ro mà Hiệp hội Sinh sản và Phôi học người của châu Âu (ESHRE) đã lên tiếng cảnh báo.

Ông Karl Nygren từ nhóm nghiên cứu IVF của ESHRE, nói rằng những trường hợp trẻ em sinh sớm thông qua phương pháp IVF có thể gây ra những biến chứng sau đó. Những cuộc xét nghiệm đầu tiên về trẻ thụ tinh IVF vẫn sẽ được thực hiện đến năm họ được 30 tuổi.

Tiến sĩ (TS). Karl Nygren hiện công tác tại Bệnh viện SofiaStockholm, phát biểu: "Chúng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra cho những đứa trẻ sinh ra bằng phương pháp IVF khi chúng đạt đến các ngưỡng 40, 50 hay 60 tuổi. Có lý thuyết cho rằng nếu bạn sinh ra sớm, bạn sẽ có nguy cơ mắc phải căn bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch. Chúng tôi biết nhiều nhưng chúng tôi không biết cặn kẽ, có lẽ chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi để biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra".

Louise Brown (ngày nay là Bà Wesley Mullinder) là đứa trẻ thụ tinh IVF đầu tiên trên thế giới nhờ áp dụng thành tựu của Giáo sư Bob Edwards (giữa) và ông Alastair MacDonlad, là đứa trẻ sinh ra thứ 2 bằng phương pháp IVF.

Trò chuyện với ESHRE, TS. Karl Nygren nói: "Thuở ban đầu, người ta nghĩ rằng trẻ em sinh ra bằng IVF rất có thể sẽ là những quái thai bởi vì kỹ thuật IVF rất nguy hiểm. Hiện tại, chúng tôi biết rằng đó là những suy nghĩ không chính xác nhưng chúng tôi cần phải theo dõi".

Những trục trặc sức khoẻ được nhìn thấy là từ những trẻ em sinh đôi hay sinh ba được áp dụng từ kỹ thuật IVF. Họ thường nhẹ cân hơn những trẻ em khác và chào đời sớm, họ cũng hay mắc bệnh hơn những trẻ em khác. Thêm nữa, phụ nữ vô sinh thường thích con họ sớm chào đời, song lý do này không rõ ràng. Những căn bệnh truyền nhiễm, trầm cảm và các nhân tố khác đã ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của người mẹ, ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi trong bụng mẹ, hoặc trong suốt thời kỳ mang thai nếu người mẹ không kiêng cữ thì cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ sau này.

Các nhà nghiên cứu cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu tới tính mong manh của trẻ sơ sinh, công tác y tế và những trường hợp tử vong của trẻ sơ sinh bằng phương pháp IVF tại Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan kể từ năm 1982, đồng thời so sánh các kết quả trên các dữ liệu trẻ sơ sinh sinh ra theo hình thức tự nhiên.

Trong một cuộc nghiên cứu với 165 trẻ sơ sinh sau khi điều trị bằng phương pháp IVM đã chỉ ra rằng có hơn 9 % trẻ em khoẻ mạnh hơn các trẻ em IVF khác thông qua thủ thuật Xê-da (thuật mổ tử cung của người mẹ để lấy thai nhi ra ngoài), đây là nguyên nhân gây ra các rủi ro cho cả mẹ và thai nhi. Các sản phụ thường có thân hình mảnh khảnh và mức độ sẩy thai cũng chiếm tỷ lệ cao hơn.

Chuyên gia nghiên cứu IVF, TS. Peter Sjoblom từ Trường Đại học Nottingham (Anh), phát biểu: "Những dấu hiệu phát hiện được liên quan đến IVM có thể đã hình thành từ những thời kỳ đầu. Nhằm đảm chắc sức khoẻ và sự an toàn cho cả sản phụ và thai nhi, chúng tôi cần nghiên cứu kỹ hơn các trường hợp trẻ em IVF ngay từ khi chúng còn ở dạng "trứng nước" và lớn lên từ phòng thí nghiệm, đến lúc nó chào đời và trưởng thành. Chúng tôi phải thông tin rõ cho công chúng hiểu rằng, không có bất kỳ trục trặc về sức khoẻ nào có thể ghi nhận được từ trẻ em chào đời bằng IVF. Tuy nhiên, các bệnh viện phụ sản nên chia sẻ những thông tin này một cách chi tiết, vì lẽ đó chúng tôi hy vọng rằng không có lý do nào để lo lắng về điều đó".

Ông Tony Rutherford, Chủ tịch của Hiệp hội Sinh sản Anh, đã giang tay chào đón dự án nghiên cứu tính an toàn của công nghệ IVF từ TS. Peter Sjoblom. Ông Tony nói: "Tôi làm mọi thứ cần thiết để hoàn thiện, nhằm một lần nữa cam đoan về tính an toàn sức khoẻ với công chúng"

Nguyễn Thanh Hải (theo Daily Mail)
.
.
.