Cây bạch đàn cô độc khoảnh khắc kỳ diệu

Thứ Hai, 30/08/2010, 10:38
...Tôi lại dụi mắt, tôi nghĩ mình bị ảo giác hoặc phát điên thật sự. Trước mắt tôi là một khung cảnh của thần tiên, một cụm cầu vồng chói loà lừ lừ bay về phía tôi và cây bạch đàn. Thân cây xiêu vẹo ngày nào giờ trở nên duyên dáng như một vũ công đang múa. Cụm ánh sáng của cầu vồng sặc sỡ vây quanh tôi và cây bạch đàn thần kỳ ấy. Tôi thấy mình như tan biến, gió, nắng, màu sắc của cầu vồng, hàng vạn viên kim cương… như đi xuyên qua thân thể tôi...

Cách đây gần 10 năm, tôi còn là thợ vẽ cho hãng CocaCola. Tôi được phân công thực hiện những tấm biển quảng cáo lớn ở vùng ngoại ô Hà Nội. Đây cũng là công việc không dễ dàng gì, ngoài việc phải đảm bảo tay nghề thì việc quan trọng không kém là không được sợ độ cao.

Những tấm biển quảng cáo lớn mọc sừng sững giữa cánh đồng, buộc thợ vẽ phải trèo lên để thực hiện công việc. Ai đã từng trèo lên đó mới thấy sức gió của đồng bằng mạnh như thế nào và nếu ai đó yếu tim,  yếu tiền đình… thì xin đừng bao giờ nhận công việc này dù thù lao rất khá. Tôi và một anh bạn được coi là hai kẻ "liệt" thần kinh, đảm nhiệm tốt công việc leo trèo và vẽ những hình quảng cáo trên cao.

Thế nhưng, dù không sợ độ cao thì hai chúng tôi vẫn phải chào thua cái nắng mùa hè của đồng bằng. Gần đến trưa hai chúng tôi buộc phải trèo xuống nghỉ ngơi vì nóng kinh khủng. Phía dưới cái biển quảng cáo lớn ấy là cánh đồng mênh mông của huyện Sóc Sơn, rất ít chỗ để trú nắng. Nhưng rất may gần đó có một cây bạch đàn. Không hiểu sao giữa cánh đồng này lại sót lại một cây bạch đàn? Nó không lớn lắm, thậm chí còi cọc và dị dạng. Nó cũng không mọc thẳng như thường thấy mà uốn éo như bị ai đó hành hạ từ khi còn bé. Những tán lá cũng chẳng tươi tốt chút nào, nó rũ rượi, úa vàng buồn bã.

Tôi vốn không thích loài cây bạch đàn. Đó là một loại cây gợi nhớ đến sự cằn cỗi buồn tẻ. Đó là loại cây chỉ có thể mọc ở những quả đồi trọc, đầy sỏi đá. Đó là loại cây trơ cứng hát khúc nhạc buồn của những buổi trưa vắng hoe buồn bã… nói chung tôi không thích chúng…

Nhưng khi ấy, cái cây cô độc mọc xiên xẹo giữa cánh đồng nắng cháy này là nơi nghỉ lý tưởng cho chúng tôi. Giữa cái nắng chói chang, cây bạch đàn cô độc này như nứt toác thân thể vì chẳng có ai đứng bên cạnh. Nó phải gồng mình chịu nắng và tạo nên một khoảng râm vừa đủ cho hai thợ vẽ chúng tôi. Trong cái khoảng râm nhỏ nhoi ấy, hai thợ vẽ chúng tôi thoải mái dùng bữa trưa, hoặc chợp mắt chờ cho nắng dịu để tiếp tục công việc vẽ trên cao.

Cứ thế cái công việc leo trèo, vẽ vời trên cao và nghỉ trưa dưới gốc cây bạch đàn cô độc kéo dài rất lâu. Và đương nhiên trời nắng, cũng như trời mưa dưới gốc cây bạch đàn là nơi trú ngụ duy nhất của hai chúng tôi. Nó quen thân đến nỗi chẳng có gì để quan sát, có lần anh bạn tôi nói: "Tớ với cậu cô đơn nhất Hà Nội này, mở mắt là trèo lên cao, buổi trưa thì ngồi dưới gốc cây này, tối về lăn ra ngủ, sáng ra lại trèo lên cao. Chẳng có ai làm bạn, cả ngày chỉ được nhìn con gái từ trên cao…".

Quả đúng như vậy, hơn hai tháng trời, chúng tôi cứ làm việc như thế, buồn tẻ, mệt mỏi, nóng bức, cô đơn. Lúc ấy chỉ mong công việc xong thật sớm để về với phố phường, ngắm nhìn những thiếu nữ cho bớt quạnh hiu.

Đôi lúc, nhìn cái cây bạch đàn dị dạng, cô độc đứng giữa cánh đồng mà thấy nó giống hai chúng tôi đến thế. Loài cây này hiếm khi thấy cô độc, ít nhất cũng phải vài ba cây trở lên. Người ta thường thấy những hàng bạch đàn thẳng tắp, soi bóng xuống một kênh mương nào đó, như thế trông còn chút gì đó như thơ ca, như tranh vẽ, như sự sống… Đằng này nó đứng trơ trọi, bệnh tật khắp mình, lá hoa chẳng lành lặn, nói không ngoa, đến một con chim cũng chẳng buồn đậu. Buồn! Và cái buồn của cây bạch đàn xấu xí này lây sang cả hai chúng tôi. Hai thanh niên chưa vợ, đang thèm người yêu lại phải gật gù dưới một cái cây cô độc thì còn gì buồn bằng nữa.

Nhưng như thế vẫn chưa đủ, khi công việc đang dang dở thì cái tay trưởng phòng mỹ thuật người Mỹ điều mất ông bạn tôi đi chỗ khác. Tôi nhớ mãi cái miệng đầy râu của ông ta nói lơ lớ tiếng Việt thế này: Việc ở đây gần xong, một mình mày vẽ là được, còn thằng này sang bên Gia Lâm giúp nhóm khác…

Làm thuê cho Tây có thù lao cao nhưng cấm được cãi bao giờ. Chúng nó bảo thế nào phải nghe tắp lự nếu không thì a - lê - hấp - bạn bị sa thải!

Dù có chán đến mấy tôi cũng phải chia tay đồng nghiệp duy nhất và làm việc một mình. Đừng nghĩ cái cánh đồng Sóc Sơn thời ấy đông vui và nhiều khu công nghiệp như bây giờ. Nó vắng hoe, thậm chí vài làng lân cận còn chưa có điện. Và cái vắng - vắng đến muốn tự tử là buổi trưa. Buổi sáng còn râm ran mấy người cày bừa, trồng hái gì đó, nếu may mắn hơn thì vài cô thôn nữ, mặt đỏ hây hây, bắp chân to bự, eo hông rắn chắc đứng ở dưới cười đùa trêu ghẹo cái thằng thợ vẽ lửng lơ trên cao.

Thế nhưng bắt đầu vào trưa người ta biến đâu hết, bỏ lại tôi trơ khấc với cây bạch đàn bệnh tật. Nhiều lúc tôi muốn một cơn lốc ở đâu đó vụt tới ném tôi vào bầu trời và không ai còn tìm thấy tôi nữa.

Cũng có lúc tôi lười trèo xuống nên để nguyên dây an toàn quanh mình, nằm vắt vẻo trên giàn giáo mặc kệ cái nắng như muốn sấy khô thân xác mình. Thật sự thì tôi không muốn xuống đất để phải đến cái gốc cây cô đơn kia, để phải nghe khúc hát não nề buồn tẻ của nó.

Cũng có lần tôi không thèm nghỉ trưa, miệng gặm bánh mì, tay vẫn vẽ cho đến tận chiều rồi về một thể. Tôi ghét phải ngồi dưới cái gốc cây ấy một mình. Tôi một mình, nó một mình, cánh đồng một mình và buồn một mình. Tôi nghĩ nếu một tháng nữa bọn Tây không tăng cường cho thợ vẽ nào tôi sẽ nghỉ việc, trả cao đến mấy tôi cũng nghỉ. Thề có cây bạch đàn kia chứng kiến, tôi sẽ đào tẩu nếu không có ai đó để bầu bạn, ít nhất cũng phải được nói vài câu với ai chứ, chẳng lẽ cả ngày tôi cứ ngậm miệng để làm việc à?

Đôi lúc tôi như phát điên và gào rú giữa cánh đồng mênh mông ấy để chứng tỏ mình còn tồn tại. Hoặc tôi phải tự nghêu ngao hát những câu vô nghĩa, nếu không tôi sẽ rơi từ độ cao chóng mặt ấy xuống đất vì buồn. Tôi có gào, có hát, có làm gì đi nữa thì cũng chẳng ai nghe thấy, tất cả vẫn im lặng mênh mông giữa cái nắng oi bức của mùa hè.

Và cho đến một buổi trưa, trời vẫn nắng như chưa bao giờ mát mẻ. Tôi định bụng để nguyên dây an toàn quanh mình, nằm vắt vẻo trên giàn giáo - sẽ không xuống với cái cây bạch đàn kia, để nó chết vì cô đơn một thể. Nhưng bất chợt một trận mưa rào đến nhanh hơn cả gió lốc. Từng hạt mưa to như hòn bi rơi lộp bộp xuống đầu, mắt, mũi, tai, miệng… cay xè. Và gió - những cơn gió mang theo cái bỏng rát của nắng hè quất vào tôi tới tấp. Khi ấy tôi nghĩ mình sẽ rơi, hoặc bay đi đâu đó, chỉ thấy tối sầm mặt mũi, cố bám thật chắc vào giàn giáo.

Bám mãi, tay chân mỏi nhừ tôi bèn tìm cách leo xuống. Chính xác là tôi tụt xuống và ngã chỏng gọng trong ruộng lúa. Tôi lồm cồm bò dậy, liêu xiêu, dò dẫm cố lết về phía cây bạch đàn. Lúc này chỉ nơi đó mới an toàn, tôi sẽ chết nếu không đến được cái gốc cây xiêu vẹo ấy.

Mãi rồi tôi cũng ôm được gốc cây. Gió vẫn rít, mưa vẫn rơi từng tảng như bê-tông. Tôi ướt như chuột lội và bắt đầu thấy lạnh - lạnh như chưa bao giờ biết đến lạnh! Tôi không nhớ đã ôm cái gốc cây ấy bao lâu, nhưng bất chợt gió biến đâu mất, mưa cũng biến đâu mất - chúng bỏ đi như một trò ảo thuật. Cánh đồng lại mênh mông, trong vắt như bao giờ. Nắng bắt đầu lan toả, mọi thứ như được gột rửa sạch sẽ. Tôi thấy rõ thân cây bạch đàn thường ngày xấu xí, nham nhở như người bị ghẻ nay bỗng chốc sạch bong trắng sáng, những chiếc lá úa màu bây giờ xanh ngắt đu đưa đón nắng.

Một cảnh tượng chưa từng thấy đã diễn ra. Cả cây bạch đàn bây giờ rực rỡ như khoác trên đó cả hàng vạn viên kim cương lấp lánh. Tôi nghĩ mình hoa mắt, tôi đã dụi mắt nhiều lần nhưng rõ ràng tôi thấy như vậy. Những giọt nước mưa chưa kịp rơi khỏi thân cây, bây giờ phản chiếu với ánh nắng đã trở nên lung linh như một phép màu.

Một cơn gió nhẹ thoảng qua, thân cây khẽ rung và hàng vạn viên kim cương lấp lánh ấy tách ra bay theo gió - lấp lánh - lấp lánh - biến mất. Tôi lại dụi mắt, tôi nghĩ mình bị ảo giác hoặc phát điên thật sự. Trước mắt tôi là một khung cảnh của thần tiên, một cụm cầu vồng chói loà lừ lừ bay về phía tôi và cây bạch đàn. Thân cây xiêu vẹo ngày nào giờ trở nên duyên dáng như một vũ công đang múa. Cụm ánh sáng của cầu vồng sặc sỡ vây quanh tôi và cây bạch đàn thần kỳ ấy. Tôi thấy mình như tan biến, gió, nắng, màu sắc của cầu vồng, hàng vạn viên kim cương… như đi xuyên qua thân thể của tôi. Bất giác tôi không còn thấy đâu là tôi, đâu là cây bạch đàn, đâu là nắng và đâu là màu sắc của cầu vồng… Tất cả hoà vào làm một.

Cho đến bây giờ, khi ngồi viết lại những dòng chữ này, tôi cũng không nhớ chính xác cái khoảnh khắc thần tiên này diễn ra bao lâu. Tôi như tan biến vào cánh đồng mênh mông, sạch sẽ sau cơn mưa ấy. Tôi như biến vào thân cây bạch đàn diệu kỳ ấy. Hoặc tôi đã tan vào đám cầu vồng sặc sỡ, cũng có thể tôi đã biến thành một trong hàng vạn viên kim cương kỳ lạ kia… Tôi không nhớ, nhưng tôi đã trải nghiệm cảm giác này. Nó thật kỳ diệu!

Sau lần đó, tôi bỗng thấy cây bạch đàn kia không xấu xí nữa, nó đẹp lạ lùng. Tự nhiên tôi với nó như đã quen biết nhau từ lâu lắm. Một sự thân thiết, gần gũi vô cớ xâm chiếm lấy tôi và nó. Thậm chí tôi còn cảm giác được cả suy nghĩ của nó và rõ ràng nó không hề cô đơn, hay buồn tẻ như tôi vẫn tưởng tượng. Nó rất sống động, tự do và hát bài ca rất riêng của nó. Tôi nghĩ mình đã sai lầm khi cảm nhận cái cây kia bằng những giác quan thô thiển, và sẵn sự buồn chán. Tôi nghĩ sau cơn mưa lạ lùng này, tôi có một khả năng nào đó, ít nhất cũng hiểu được vẻ đẹp của cây bạch đàn cô đơn kia.

Bây giờ, sau nhiều năm mỗi lần đi qua cánh đồng tôi vẫn cố tìm lại cây bạch đàn thân thiết kia, nhưng nó đã không còn nữa. Những khu công nghiệp, những ngôi nhà hiện đại đã phủ kín cánh đồng. Nó đã biến mất, hoặc bị ai đó phá huỷ - có lẽ thế! Nhưng dù sao đi nữa tôi vẫn thấy mình thật may mắn, vẻ đẹp của cuộc sống luôn ở đâu đó, và tôi nghĩ chúng luôn hiện diện, vấn đề là chúng ta có chịu mở cửa để chúng đi vào. Nó nằm trong lòng bàn tay, chỉ cần xoè ra sẽ thấy.

Hà Nội, ngày 20/7/2010

ASáng
.
.
.